An Giang siết “2 không”, làm sạch dữ liệu đất đai để quản trị nguồn lực
An Giang quyết không đánh đổi chất lượng lấy tiến độ, đặt mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai “đúng – đủ - sạch – sống – thống nhất – dùng chung”, tạo nền tảng quản trị tài nguyên minh bạch, hiệu quả và bền vững.
Không chạy theo con số, không đánh đổi chất lượng
Ngày 13/8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Ngô Công Thức chủ trì cuộc họp đánh giá tiến độ thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 355/KH-UBND ngày 1/7/2026 của UBND tỉnh về đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.

2.349.450 thửa đất đã được đồng bộ lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, nhưng mới 43,92% đạt tiêu chí “đúng – đủ - sạch – sống”.
Đây là phiên họp thứ 4 trong bối cảnh An Giang đang bước vào giai đoạn quyết định: cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu trong tháng 8/2026 và hoàn thiện toàn bộ cơ sở dữ liệu đất đai trong năm 2026.
Con số 100% thửa đất đã được đồng bộ lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là một dấu mốc quan trọng. Nhưng phía sau con số tưởng như đã “về đích” ấy vẫn còn một khoảng trống rất lớn về chất lượng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, tính đến ngày 11/8, trong tổng số 2.349.450 thửa đất, mới có 1.031.903 thửa, tương đương 43,92%, đạt tiêu chí Nhóm 1 “đúng – đủ - sạch – sống”. Còn tới 1.317.547 thửa, chiếm 56,08%, thuộc Nhóm 2 và tiếp tục phải chuẩn hóa.
Điều đó cho thấy một thực tế: đồng bộ dữ liệu mới là bước đưa dữ liệu vào hệ thống; làm cho dữ liệu có giá trị mới là phần việc khó nhất.
Trong quản trị hiện đại, một cơ sở dữ liệu không thể được đánh giá bằng số lượng hồ sơ đã nhập hay tỷ lệ đã đồng bộ. Giá trị của dữ liệu nằm ở khả năng trả lời chính xác câu hỏi: đất ở đâu, thuộc ai, sử dụng vào mục đích gì, hiện trạng thế nào, biến động ra sao và thông tin đó có đủ tin cậy để cơ quan quản lý ra quyết định hay không.
Đây cũng là lý do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Công Thức yêu cầu toàn hệ thống quán triệt nguyên tắc “2 không”: không lùi tiến độ theo Kế hoạch số 355/KH-UBND và không hạ chuẩn chất lượng cơ sở dữ liệu vì áp lực thời gian.
Đây không chỉ là yêu cầu điều hành một nhiệm vụ kỹ thuật. Sâu xa hơn, đó là yêu cầu về kỷ luật quản trị.
Bởi nếu vì chạy tiến độ mà chấp nhận dữ liệu sai, thiếu, trùng lặp hoặc chưa được xác thực, những sai số hôm nay sẽ không biến mất khi hệ thống được đưa vào vận hành. Chúng có thể tiếp tục đi vào quy hoạch, giải quyết thủ tục hành chính, xác định nghĩa vụ tài chính, bồi thường, giải phóng mặt bằng, quản lý dự án và hàng loạt quyết định liên quan đến quyền, lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Khi đó, cái giá phải trả cho một dữ liệu “làm nhanh nhưng chưa sạch” có thể lớn hơn rất nhiều so với thời gian bỏ ra để làm đúng ngay từ đầu.
Dữ liệu đất đai phải trở thành hạ tầng của nền kinh tế
Đất đai là nguồn lực đặc biệt. Nhưng nguồn lực ấy chỉ thực sự được quản trị hiệu quả khi Nhà nước biết chính xác nguồn lực đang ở đâu, được sử dụng như thế nào và biến động ra sao.
Vì vậy, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai không nên chỉ được nhìn dưới góc độ chuyển những tập hồ sơ giấy lên môi trường số. Đó phải là quá trình tái cấu trúc phương thức quản lý đất đai.
Khi dữ liệu về thửa đất, người sử dụng đất, diện tích, loại đất, hồ sơ pháp lý và biến động được chuẩn hóa, xác thực và cập nhật thường xuyên, chính quyền có thể từng bước chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Một dữ liệu đất đai chính xác sẽ giúp nâng chất lượng quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và quản lý các dự án đầu tư.
Ngược lại, dữ liệu không chính xác có thể tạo ra những “điểm mù” trong quản lý tài nguyên. Một thửa đất được xác định sai hiện trạng, một chủ sử dụng đất chưa được xác thực, một biến động chưa được cập nhật hay một hồ sơ chưa được chuẩn hóa đều có thể trở thành mắt xích gây chậm trễ cho cả một quy trình.
Dữ liệu sạch là một công cụ chống lãng phí đất đai. Khi Nhà nước có một “bản đồ sống” về nguồn lực đất đai, việc nhận diện đất sử dụng kém hiệu quả, đất bỏ hoang, đất biến động bất thường hay những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện quy hoạch sẽ có cơ sở rõ ràng hơn.
Dữ liệu càng chính xác, năng lực giám sát tài nguyên càng tốt; năng lực giám sát càng tốt, dư địa để sử dụng đất lãng phí, sai mục đích hoặc kém hiệu quả càng được thu hẹp.
Đây chính là điểm cần nhìn thấy phía sau nhiệm vụ số hóa đất đai: không chỉ tạo ra một kho dữ liệu điện tử, mà xây dựng một hạ tầng quản trị mới cho nền kinh tế.
“6 rõ” để dữ liệu sạch đi cùng trách nhiệm rõ
Để không biến yêu cầu về chất lượng thành một khẩu hiệu chung chung, An Giang đang chuyển trọng tâm sang xử lý từng nhóm việc cụ thể.

An Giang đang bước vào chặng nước rút, nơi yêu cầu về tiến độ phải song hành với một nguyên tắc không thể nhân nhượng: không hạ chuẩn chất lượng dữ liệu.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Công Thức yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường huy động toàn bộ lực lượng của Văn phòng Đăng ký đất đai và các chi nhánh tập trung xử lý dứt điểm các lỗi thuộc tính, mã thửa đất không gian và ký số toàn bộ hồ sơ quét còn tồn đọng trước ngày 25/8/2026.
Các hồ sơ quét có sai sót phải được phân loại, gán đúng loại tài liệu và hoàn thành trước ngày 31/8/2026.
Đồng thời, tỉnh tiếp tục yêu cầu tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính về đất đai, giảm thành phần hồ sơ giấy, tăng khai thác dữ liệu đã số hóa và nâng tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
Một cơ sở dữ liệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân và doanh nghiệp không phải cung cấp đi cung cấp lại những thông tin mà Nhà nước đã có. Đó mới là thước đo thực chất của chuyển đổi số.
Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng khác là xác thực thông tin người sử dụng đất với dữ liệu dân cư.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Công an tỉnh chỉ đạo Công an cấp xã phối hợp với các Tổ công tác cấp xã xử lý dứt điểm những trường hợp chủ sử dụng đất chưa được xác thực, hoàn thành trước ngày 31/8/2026.
UBND các xã, phường, đặc khu phải tổ chức rà soát, thu thập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cước công dân hoặc mã định danh cá nhân; đồng thời thông báo linh hoạt về thời gian, địa điểm tiếp nhận để người dân thuận lợi phối hợp.
Điều này cho thấy một nguyên tắc quan trọng: làm sạch dữ liệu đất đai không thể chỉ trông chờ vào công nghệ.
Công nghệ có thể số hóa hồ sơ, nhưng chính quyền cơ sở phải xác thực dữ liệu với thực tế; người dân phải tham gia cung cấp, đối chiếu thông tin; cơ quan chuyên môn phải chịu trách nhiệm về chuẩn hóa và cập nhật.
Bởi vậy, yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền” không đơn thuần là phương pháp tổ chức công việc. Đó là cách để một hệ thống dữ liệu lớn không rơi vào tình trạng “trách nhiệm chung thì cuối cùng không ai chịu trách nhiệm”.
Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND cấp xã phải trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng dữ liệu thuộc phạm vi được giao.
Song song đó, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và khả năng chia sẻ dữ liệu đúng thẩm quyền cũng phải được đặt ngang hàng với yêu cầu về tiến độ.
Bởi dữ liệu đất đai càng được kết nối với dữ liệu dân cư, thuế, quy hoạch và các hệ thống quản lý khác, giá trị của nó càng lớn nhưng rủi ro nếu dữ liệu sai hoặc bị khai thác không đúng thẩm quyền cũng càng cao.
An Giang hiện đã hoàn thành một chặng đường quan trọng khi 100% thửa đất được đồng bộ lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nhưng 56,08% số thửa vẫn cần tiếp tục hoàn thiện cho thấy cuộc chạy đua thực sự vẫn đang ở phía trước.
Và đây cũng là lúc cần phân biệt rõ giữa “hoàn thành nhiệm vụ” trên giấy và “hoàn thành giá trị” trong thực tế.
Không lùi tiến độ là giữ kỷ luật thực hiện nhiệm vụ. Không hạ chuẩn là giữ chất lượng của một hạ tầng dữ liệu có thể được sử dụng trong nhiều năm tới. Hai yêu cầu tưởng như đối lập nhưng thực chất phải đi cùng nhau.
Bởi tiến độ mà không có chất lượng có thể tạo ra “số hóa sai”; chất lượng mà không có tiến độ lại khiến dữ liệu không kịp phát huy giá trị.
Đích đến của An Giang vì thế không phải đơn giản là hoàn thành một tỷ lệ hồ sơ trong một mốc thời gian. Đích đến là hình thành một cơ sở dữ liệu “đúng – đủ - sạch – sống – thống nhất – dùng chung”, đủ tin cậy để quản lý đất đai, phục vụ người dân và doanh nghiệp, hạn chế lãng phí nguồn lực và nâng chất lượng các quyết định phát triển.
Đó mới là ý nghĩa thực chất của một nền quản trị đất đai trong kỷ nguyên số.
6 tiêu chí của cơ sở dữ liệu đất đai
Đúng: Thông tin phản ánh chính xác hồ sơ và hiện trạng quản lý, sử dụng đất.
Đủ: Không bỏ sót các trường thông tin cần thiết của thửa đất và người sử dụng đất.
Sạch: Dữ liệu được rà soát, loại bỏ sai lệch, trùng lặp, thiếu thống nhất.
Sống: Dữ liệu được cập nhật thường xuyên theo biến động thực tế.
Thống nhất: Các thông tin được chuẩn hóa, đồng bộ giữa các hệ thống.
Dùng chung: Dữ liệu có thể được khai thác theo đúng thẩm quyền, phục vụ nhiều cơ quan, người dân và doanh nghiệp.












