Tăng tự chủ nguồn cung, nâng năng lực điều hành thị trường xăng dầu
Trong bối cảnh sản lượng khai thác trong nước suy giảm, phụ thuộc nhập khẩu còn lớn và giá dầu thế giới biến động khó lường, yêu cầu đặt ra là phải đồng thời tăng năng lực tự chủ nguồn cung, củng cố khâu lọc hóa dầu và nâng cao hiệu quả điều hành thị trường xăng dầu.
An ninh xăng dầu là một bộ phận quan trọng của an ninh năng lượng quốc gia, gắn trực tiếp với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và duy trì động lực tăng trưởng. Trong bối cảnh sản lượng khai thác trong nước suy giảm, phụ thuộc nhập khẩu còn lớn và giá dầu thế giới biến động khó lường, yêu cầu đặt ra là phải đồng thời tăng năng lực tự chủ nguồn cung, củng cố khâu lọc hóa dầu và nâng cao hiệu quả điều hành thị trường xăng dầu.

Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) đón tàu Clippver Vanguard mang gần 38.000 tấn khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) từ Australia cập cảng Thị Vải hôm, ngày 20-3-2026_Ảnh: VGP
Tăng năng lực tự chủ nguồn cung và chế biến xăng dầu
An ninh xăng dầu Việt Nam phụ thuộc vào trữ lượng tài nguyên dầu khí, năng lực công nghệ thăm dò - khai thác - chế biến, cũng như khả năng đa dạng hóa nguồn cung và hiệu quả của hệ thống quản lý thị trường xăng dầu.
Nắm giữ trữ lượng dầu mỏ 4,4 tỷ thùng, Việt Nam được Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) xếp là nước có trữ lượng dầu thô đáng kể trong khu vực châu Á. Sau gần 50 năm phát triển, ngành dầu khí Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng.
Hiện tại, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đang triển khai hoạt động khai thác tại 36 mỏ dầu khí với 21 hợp đồng trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Năm 2024, tổng doanh thu của Petrovietnam đã vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đóng góp hàng trăm nghìn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước, khẳng định vai trò trụ cột của ngành trong nền kinh tế.
Đặc biệt, cuối năm 2024, việc chuyển đổi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thành Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra không gian phát triển mới cho ngành trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu.
Gần đây, các mỏ khai thác chính đều đang ở giai đoạn suy giảm tự nhiên dẫn đến sản lượng khai thác dầu trong nước trong giai đoạn 2016 - 2020 suy giảm trung bình ở mức 11%/năm. Sản lượng dầu thô của Việt Nam đã giảm mạnh từ khoảng 365.000 thùng/ngày năm 2005 xuống dưới 120.000 thùng/ngày vào năm 2025. Một số mỏ khí lớn đã suy giảm sản lượng trong những năm gần đây, làm gia tăng áp lực bảo đảm nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế.
Đối với các dự án khí lớn như Lô B và Cá Voi Xanh, trữ lượng đã phát hiện chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng trữ lượng khí chưa khai thác của Việt Nam và được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn cung khí quan trọng trong thời gian tới.
Đầu năm 2026, giếng thẩm lượng Hải Sư Vàng-2X tại Lô 15-2/17, bể Cửu Long cho kết quả tích cực với lưu lượng khoảng 6.000 thùng/ngày và trữ lượng ước tính hàng trăm triệu thùng dầu quy đổi. Phát hiện này được kỳ vọng góp phần cải thiện sản lượng khai thác và làm chậm xu hướng suy giảm sản lượng dầu trong nước. Đa số dầu thô của Việt Nam là dầu nhẹ, ít lưu huỳnh, nên thường được bán với giá cao hơn so với mức bình quân trên thị trường thế giới.
Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công tác thăm dò dầu khí trên thềm lục địa, mở rộng hoạt động ra các vùng nước sâu và xa bờ, đồng thời áp dụng các giải pháp công nghệ nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu tại các mỏ hiện hữu. Bên cạnh khai thác dầu khí, năng lực lọc hóa dầu trong nước cũng đóng vai trò quan trọng đối với an ninh xăng dầu. Hiện nay, 2 nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn cung cấp khoảng 70% - 75% nhu cầu xăng dầu trong nước.
Phương hướng cơ bản sắp tới là Việt Nam đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thềm lục địa và vươn ra xa, đi xuống sâu hơn; xác định các cấu trúc có triển vọng và xác minh trữ lượng công nghiệp có khả năng khai thác; tiếp tục đưa các mỏ mới vào khai thác, để tạo ra sản lượng mới và tìm cách để thúc đẩy nhân tố phục hồi bằng cách khoan thêm các giếng, cố gắng tìm ra dầu mới từ mỏ cũ.
Việc bảo đảm an ninh dầu khí nói riêng, an ninh năng lượng quốc gia nói chung không chỉ tùy thuộc vào tiềm năng dự trữ dầu khí, mà còn đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, bảo đảm vận hành an toàn và sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về chất lượng của ngành công nghiệp lọc hóa dầu thế giới, cũng như đòi hỏi nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường.
Các mỏ dầu của Việt Nam được phát hiện cho đến thời điểm hiện tại đều ở thềm lục địa dưới 200m nước. Vì vậy, việc phát triển và khai thác các mỏ ngoài khơi đòi hỏi kiến thức chuyên môn trong thăm dò, thẩm lượng, phát triển và khai thác mỏ.
Nhà nước đã có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng hoạt động thăm dò ra các vùng mới có tiềm năng và sự thành công trong thăm dò, thẩm lượng gia tăng trữ lượng trong thời gian qua từ các mỏ đã phát hiện chiếm khoảng 45% trữ lượng được bổ sung.
Trong tương lai, khai thác dầu ngoài khơi ở Việt Nam số lượng mỏ nhỏ, hay còn gọi là mỏ biên trên góc độ kinh tế ngày càng tăng. Để khai thác hiệu quả các mỏ này, cần nghiên cứu áp dụng hệ thống khai thác theo quan điểm “thiết bị/giàn tối thiểu” với các kiểu giàn nhẹ đầu giếng và một tàu nổi có công suất thích hợp cho chứa/xử lý/xuất dầu.
Đồng thời, đẩy mạnh việc nghiên cứu áp dụng các giải pháp tăng cường thu hồi dầu sau khi đã áp dụng khai thác thứ cấp, đặc biệt đối với các đối tượng móng nứt nẻ trước Đệ Tam của các mỏ dầu ở bể Cửu Long đang là vấn đề cực kỳ cấp thiết khi sản lượng các mỏ này bắt đầu suy giảm nhanh.
Từ tháng 6-2026, dự kiến Việt Nam bắt đầu bắt buộc pha trộn xăng E10 trên toàn quốc, góp phần giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Về dài hạn, Việt Nam sẽ đàm phán với các nhà cung cấp dầu thô như BP, Shell,... về hợp đồng mua dầu dài hạn từ nước ngoài để pha trộn với dầu Bạch Hổ và dầu ngọt Việt Nam để bảo đảm nguồn đầu vào cho 2 nhà máy lọc hóa dầu...

Kho khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Thị Vải tại Kho cảng PV GAS Vũng Tàu giữ vai trò trữ và cung cấp LNG cho khu vực Đông Nam Bộ_Ảnh: baotintuc.vn
Nâng năng lực điều hành thị trường trước biến động giá dầu
Trong những năm gần đây, giá dầu mỏ thế giới biến động mạnh gắn với cạnh tranh địa - chính trị giữa Mỹ và các đồng minh với Nga, Trung Quốc và các bên liên quan; với những biến đổi về nguồn cung và nhu cầu tiêu thụ dầu thế giới.
Việt Nam vừa là nước xuất khẩu dầu thô, lại vừa là nước nhập khẩu dầu thô và xăng dầu thành phẩm. Do vậy, sự biến động giá dầu giảm tác động hai chiều, gồm cả thuận lợi và khó khăn: một mặt, khi giá dầu giảm, nền kinh tế nhìn chung nhận được xung lực tích cực nhờ giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và các hoạt động tiêu dùng trực tiếp, gián tiếp liên quan đến xăng dầu của người dân.
Hơn nữa, giá dầu thô giảm còn giúp Việt Nam tiết kiệm một khoản ngoại tệ đáng kể khi nhập khẩu 1/3 tổng cầu xăng dầu hằng năm. Áp lực lạm phát chi phí đẩy và lạm phát ngoại nhập cũng được cải thiện, nếu giá dầu thô tiếp tục ở mức thấp.
Mặt khác, giá dầu thô giảm sẽ gây hụt thu ngân sách nhà nước, làm tăng căng thẳng nguồn thu từ dầu, trong khi có thể bù lại bằng cải thiện nguồn thu từ hoạt động kinh tế gia tăng nhờ giá dầu thô thấp.
Trước biến động của thị trường năng lượng thế giới, Việt Nam chủ động triển khai nhiều giải pháp điều hành nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho thị trường trong nước. Nhờ đó, nguồn cung xăng dầu trong nước hiện cơ bản vẫn được bảo đảm và giá bán lẻ xăng dầu trên toàn quốc đã giảm.
Bên cạnh việc các cơ quan quản lý đã tăng cường theo dõi diễn biến giá dầu thế giới, điều hành linh hoạt thuế, phí và Quỹ Bình ổn giá xăng dầu; đồng thời, phối hợp với các doanh nghiệp đầu mối để duy trì ổn định nguồn cung còn tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc buôn lậu xăng dầu qua biên giới.
Liên Bộ Công Thương - Tài chính đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường để thông báo giá xăng dầu phù hợp, đúng chỉ đạo và kịp thời đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp bình ổn giá xăng dầu; đồng thời, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho thị trường của các thương nhân kinh doanh xăng dầu và sẽ xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, buôn lậu xăng dầu qua biên giới hoặc vi phạm quy định kinh doanh...
Nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ, nguồn cung xăng dầu trong nước cơ bản vẫn được bảo đảm, góp phần ổn định thị trường và hạn chế tác động tiêu cực của biến động giá dầu thế giới đối với nền kinh tế./.












