Tăng ưu đãi để phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cần bám sát định hướng quản lý xuyên suốt từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị bổ sung nhiều cơ chế ưu đãi nhừm thúc đẩy phát triển cuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Ảnh minh họa: Thanh Hòa - TTXVN

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị bổ sung nhiều cơ chế ưu đãi nhừm thúc đẩy phát triển cuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Ảnh minh họa: Thanh Hòa - TTXVN

Góp ý đối với hồ sơ xây dựng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất với mục tiêu quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị, đồng thời đề nghị bổ sung nhiều cơ chế ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, bền vững.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm cần bám sát định hướng quản lý xuyên suốt từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ; đồng thời tăng cường các biện pháp phòng ngừa việc sử dụng các chất trong sản xuất, chế biến thực phẩm sai mục đích hoặc dễ bị lạm dụng, gây mất an toàn thực phẩm.

Đối với chính sách ưu đãi đầu tư phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng cần xây dựng các cơ chế hỗ trợ cụ thể đối với cơ sở đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất thực phẩm.

Bên cạnh đó, bộ đề nghị bổ sung chính sách ưu đãi đối với các cơ sở áp dụng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm như HACCP, ISO 22000 hoặc tương đương; các cơ sở sản xuất ban đầu áp dụng các tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt như GlobalGAP, ASEAN GAP, sản xuất hữu cơ, RA hoặc các tiêu chuẩn tương đương. Các cơ sở này có thể được xem xét áp dụng phương thức kiểm tra giảm đối với một số lô hàng nhập khẩu.

Bộ cũng kiến nghị nghiên cứu, bổ sung vào Luật một số chính sách ưu đãi đang được áp dụng theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong đó có chính sách ưu đãi vốn cho các cơ sở sản xuất ban đầu trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và khai thác thủy sản để đầu tư công nghệ, trang thiết bị, cải tiến hệ thống quản lý và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến.

Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp và môi trường đề xuất có chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất áp dụng và được chứng nhận các tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt, hữu cơ; hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại các vùng nguyên liệu nông sản tập trung; hỗ trợ bổ sung đối với các vùng nguyên liệu đạt chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, tiêu chuẩn phát thải thấp hoặc tương đương.

Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị đưa vào luật các chính sách khuyến khích mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong sản xuất thực phẩm; ưu đãi đầu tư vào sản xuất giống, bảo tồn nguồn gen, chăn nuôi và nuôi trồng quy mô trang trại; hỗ trợ phát triển hạ tầng giết mổ, chế biến công nghiệp, hệ thống logistics lạnh và các dịch vụ hỗ trợ đầu vào như thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, dịch vụ thú y.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau 15 năm thi hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010, hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp đã từng bước được kiện toàn từ trung ương đến địa phương.

Hiện bộ có các đơn vị quản lý chuyên ngành như Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Cục Chăn nuôi và Thú y, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn. Tại địa phương, cơ bản đã hình thành hệ thống cơ quan chuyên môn tương ứng thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường.

Tuy nhiên, trên thực tế có những loại hình cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm nông lâm thủy sản nên chưa đảm bảo nguyên tắc một cơ sở chịu sự quản lý của một cơ quan.

Đối với sản phẩm nông lâm thủy sản thuộc phạm vi quản lý của ngành nông nghiệp và môi trường, bên cạnh quản lý an toàn thực phẩm còn quản lý về dịch bệnh, dịch hại nên việc phân công quản lý còn phân tán ở một chừng mực nhất định đối với từng công đoạn sản xuất trong chuỗi.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, ngành đang chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp xanh, tăng cường áp dụng quy trình sản xuất hữu cơ, giảm sử dụng vật tư đầu vào hóa học, mở rộng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học và phân bón hữu cơ; phát triển các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp và chăn nuôi an toàn sinh học.

Đến hết năm 2025, cả nước có 322.491 ha cây trồng được chứng nhận VietGAP và các tiêu chuẩn tương đương; hơn 2.000 chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản an toàn được thiết lập và duy trì với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn như Dabaco, Ba Huân, Saigon Co.op, San Hà… Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ đạt hơn 174.000 ha, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích đất nông nghiệp.

Việc tuân thủ quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thời gian cách ly trước thu hoạch ngày càng được cải thiện, góp phần giảm tồn dư hóa chất trong rau quả tươi. Nhiều sản phẩm đã được dán tem truy xuất nguồn gốc và được chứng nhận OCOP từ 3 đến 4 sao.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, đến cuối năm 2025, cả nước có 1.786 cơ sở được chứng nhận VietGAHP, với sản lượng thịt từ chăn nuôi VietGAP chiếm khoảng 30,2% tổng sản lượng thịt hơi các loại. Đối với thủy sản, gần 900 cơ sở chế biến đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu cao như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục gia tăng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những kết quả trên cho thấy việc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị đang phát huy hiệu quả. Vì vậy, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng khuyến khích sản xuất an toàn, ứng dụng công nghệ cao, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn và xây dựng các chuỗi cung ứng thực phẩm bền vững từ sản xuất đến tiêu dùng.

Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/tang-uu-dai-de-phat-trien-chuoi-cung-ung-thuc-pham-an-toan/429896.html