Tạo 'căn cước' cho nông sản

Truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp người tiêu dùng biết sản phẩm được sản xuất ở đâu, mà quan trọng hơn là có thể kiểm chứng quá trình tạo ra sản phẩm. Tại Thái Nguyên, việc chuẩn hóa, số hóa và kết nối dữ liệu đang từng bước được triển khai, tạo “tấm căn cước” cho nông sản, bảo vệ cơ sở sản xuất nghiêm túc và nâng sức cạnh tranh trên thị trường.

Anh Dương Văn Hồng, Giám đốc HTX Chăn nuôi bò và Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Nga My thực hiện tích hợp, đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống truy xuất nguồn gốc lên trang chủ.

Anh Dương Văn Hồng, Giám đốc HTX Chăn nuôi bò và Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Nga My thực hiện tích hợp, đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống truy xuất nguồn gốc lên trang chủ.

Giá trị của truy xuất nguồn gốc nông sản

Tại Hợp tác xã (HTX) Chăn nuôi bò và Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Nga My, nguồn gốc được kiểm soát ngay từ nguyên liệu đầu vào. Bò được chăn nuôi theo mô hình tuần hoàn. Sau đó, bò được đưa đến lò mổ rồi trở về cơ sở để chế biến sâu. Qua đó, đơn vị xác định được nguồn thịt của từng sản phẩm. Các nguyên liệu phụ như nước mắm, hạt tiêu, ớt... cũng phải có nguồn gốc, bản công bố và hóa đơn đầy đủ. Trong quá trình sản xuất, HTX ghi chép ngày sản xuất, lô sản phẩm và đầu ra tiêu thụ, tạo cơ sở để lần ngược quá trình hình thành sản phẩm khi cần.

HTX hiện có 10 sản phẩm, trong đó bò khô, giăm bông bò và giăm bông lợn đạt OCOP 3 sao. Các sản phẩm khác như nem chua, xúc xích, nem rán, lạp sườn nướng đá, viên thả lẩu... cũng được quản lý nguồn gốc. HTX đang hoàn thiện thủ tục để kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Với cơ sở, đây không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là căn cứ khẳng định chất lượng bằng dữ liệu thực tế của quá trình sản xuất.

Quy trình đóng gói sản phẩm tại Công ty TNHH Tân Cương Xanh - Chi nhánh Thái Nguyên.

Quy trình đóng gói sản phẩm tại Công ty TNHH Tân Cương Xanh - Chi nhánh Thái Nguyên.

Nếu HTX Chăn nuôi bò và Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Nga My đang hoàn thiện hệ thống thì Công ty TNHH Tân Cương Xanh là một trong những đơn vị đi trước. Từ tháng 7, vùng nguyên liệu liên kết của 26 hộ, với hàng chục héc-ta chè, đã được quản lý, truy xuất trên Hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Để đạt kết quả này, doanh nghiệp không đơn thuần gắn mã QR lên bao bì mà phải chuẩn bị quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và hạ tầng quản lý dữ liệu. Khi thông tin từ vùng nguyên liệu đến sản xuất, chế biến được minh bạch, doanh nghiệp có thêm điều kiện mở rộng thị trường cho khoảng 15 tấn chè khô thành phẩm mỗi tháng.

Thực tế cho thấy, giá trị cốt lõi của truy xuất nguồn gốc nằm ở dữ liệu phía sau mã nhận diện. QR chỉ thực sự có ý nghĩa khi thông tin được ghi nhận đầy đủ, liên tục và có khả năng kiểm chứng từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến khi sản phẩm ra thị trường.

Từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu chung

Thái Nguyên đã có nền tảng nhất định để mở rộng truy xuất nguồn gốc. Hệ thống phần mềm "Quản lý chất lượng nông sản - Thái Nguyên" hiện có 533 tài khoản đăng ký; 5.136 cơ sở được cập nhật, theo dõi, quản lý; 222 vùng sản xuất với diện tích gần 1.400ha; 74 sổ nhật ký sản xuất được tạo lập và 87 sản phẩm được cập nhật thông tin.

Toàn tỉnh hiện có khoảng 80.000 cơ sở sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là nông hộ nhỏ. Trong số này, chỉ khoảng 400-500 doanh nghiệp, HTX có khả năng ứng dụng, cập nhật dữ liệu để theo dõi, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh nông sản trên các nền tảng truy xuất nguồn gốc điện tử.

Khoảng cách này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở công nghệ, mà còn ở phương thức quản lý sản xuất nhỏ lẻ. Việc chuyển từ ghi chép trên giấy sang dữ liệu điện tử, đồng thời hình thành thói quen cập nhật thông tin thường xuyên, là yêu cầu quan trọng để truy xuất thực chất.

Người dân xã Tân Cương thu hái chè.

Người dân xã Tân Cương thu hái chè.

Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết việc áp dụng Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giúp chuẩn hóa dữ liệu trên địa bàn, tạo sự thống nhất giữa địa phương với hệ thống quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với doanh nghiệp, HTX, đây cũng là quá trình chuyển từ quản lý hồ sơ giấy sang dữ liệu điện tử, minh bạch hơn thông tin về vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến và phân phối. Năm 2026, tỉnh thí điểm Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với sản phẩm chè, sau đó nhân rộng sang các nông sản khác.

Đến nay, ngành chức năng đã khảo sát, hướng dẫn, hỗ trợ ứng dụng truy xuất nguồn gốc cho 50 cơ sở sản xuất, kinh doanh chè và hỗ trợ hoàn thiện dữ liệu kết nối cho 6 doanh nghiệp, HTX. Ba đơn vị đã kết nối dữ liệu lên Hệ thống của Bộ với 42 sản phẩm trà: Công ty TNHH Tân Cương Xanh 21 sản phẩm, HTX Hương Vân Trà 15 sản phẩm và HTX Chè Hảo Đạt 6 sản phẩm.

Gỡ điểm nghẽn để dữ liệu có giá trị

Dù đã có nền tảng, số hóa truy xuất nguồn gốc vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Sản xuất nông, lâm, thủy sản chủ yếu ở quy mô nông hộ, nhỏ lẻ; liên kết giữa sản xuất, chế biến và kinh doanh theo chuỗi còn hạn chế. Việc ghi chép, lưu trữ thông tin tại nhiều cơ sở chưa đầy đủ, thường xuyên; không ít dữ liệu vẫn được quản lý trên sổ giấy. Bên cạnh đó, các phần mềm, giải pháp đang sử dụng chưa đồng bộ, thiếu liên thông, khiến dữ liệu phân tán và khó quản lý xuyên suốt chuỗi sản phẩm.

Theo ông Dương Sơn Hà, để dữ liệu truy xuất phản ánh đúng chất lượng sản phẩm, cần chuẩn hóa quy trình ghi chép, thông tin lưu trữ và số hóa dữ liệu ngay từ khâu sản xuất ban đầu; tích hợp thông tin kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, mã số vùng trồng; tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm để bảo đảm dữ liệu trung thực, đầy đủ; đồng thời triển khai thống nhất hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Tỉnh đang tiếp tục rà soát, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu sẵn có với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ, hướng tới nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”. Cách làm này giúp kế thừa dữ liệu đã hình thành, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp và hạn chế việc doanh nghiệp, người dân phải khai báo lại. Từ sản phẩm chè đang được thí điểm, Thái Nguyên sẽ tiếp tục nhân rộng truy xuất nguồn gốc đối với các nông sản chủ lực như cây ăn quả, thịt lợn, thịt gà...

Khi dữ liệu được hình thành ngay từ vùng nguyên liệu và xuyên suốt quá trình sản xuất, chế biến, lưu thông, truy xuất nguồn gốc sẽ không còn chỉ là việc “xem thông tin” qua mã QR. Đó sẽ trở thành công cụ kiểm chứng chất lượng, bảo vệ người tiêu dùng và tạo lợi thế cạnh tranh cho những sản phẩm làm thật, chất lượng thật, nguồn gốc minh bạch trên thị trường.

Bá Hoàng

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/tao-can-cuoc-cho-nong-san-4x1c6r7d