Tạo cơ sở pháp lý cho việc tái thiết kế quy trình quản lý hải quan
Thảo luận tại Tổ 6 (Đoàn ĐBQH thành phố Đồng Nai và tỉnh Thái Nguyên) chiều 3/8 về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, các đại biểu cho rằng: Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tái thiết kế quy trình quản lý hải quan tái cấu trúc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin. Tăng cường kết nối dữ liệu liên thông giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho hải quan địa phương; đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính…

Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI thành phố Đồng Nai Vũ Hồng Văn chủ trì phiên thảo luận tại Tổ 6. Ảnh: Khánh Duy
Bảo đảm tính thống nhất với Luật Biên phòng
Thảo luận tại Tổ, ĐBQH Ngô Tuấn Anh (Thái Nguyên) nêu: "Tại khoản 1 Điều 88 Luật Hải quan năm 2014 đã quy định trường hợp hàng hóa phương tiện vận tải đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan tổ chức cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì cơ quan tổ chức cá nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra xử lý.
Đại biểu phân tích, với quy định này của Luật Hải quan năm 2014, khi cơ quan chức năng trong đó có cả Bộ đội Biên phòng phát hiện hành vi buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì sẽ không được xử lý mà báo cáo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra xử lý. Quy định này không phù hợp với nhiệm vụ quyền hạn của Bộ đội Biên phòng trong chủ trì phối hợp duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới, cửa khẩu, đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới đã được quy định tại các luật liên quan. Đồng thời, không bảo đảm kịp thời ngăn chặn xử lý đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới cửa khẩu.

ĐBQH Ngô Tuấn Anh (Thái Nguyên) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy
Đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 88 Luật Hải quan theo hướng với trường hợp hàng hóa phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì thì kịp thời xử lý theo thẩm quyền và thông báo cho cơ quan hải quan để phối hợp xử lý theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, pháp luật quy định.
“Đề xuất điều chỉnh như trên là phù hợp với quy định pháp luật và thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống, buôn lậu, vận chuyển hàng hóa, trái phép qua biên giới của bộ đội biên phòng. Nếu chỉ thông báo cho cơ quan hải quan mà không tiến hành xử lý sẽ không thực hiện được đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định, trong khi có thể dễ dẫn đến bỏ lọt hành vi vi phạm pháp luật”, đại biểu nêu rõ.
Đồng tình với ý kiến của đại biểu Ngô Tuấn Anh về xử lý hàng hóa chưa đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải - ĐBQH tỉnh Thái Nguyên cho rằng, quy định hiện hành, khi lực lượng chức năng, trong đó có Bộ đội Biên phòng, phát hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì không được trực tiếp xử lý mà phải thông báo cho cơ quan hải quan để xử lý. Quy định này chưa bảo đảm tính thống nhất với Luật Bộ đội Biên phòng Việt Nam.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải - ĐBQH tỉnh Thái Nguyên phát biểu tại tổ. Ảnh: Khánh Duy
Đại biểu Nguyễn Thanh Hải đề nghị sửa đổi điểm 2, khoản 1, Điều 88 của dự thảo Luật theo hướng bổ sung quy định: trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải chưa được đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì kịp thời xử lý theo thẩm quyền và thông báo cho cơ quan hải quan để phối hợp xử lý theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định…
Đẩy mạnh chuyển đổi số, thúc đẩy tính tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp
Đóng góp ý kiến đối với Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương (TP. Đồng Nai) đánh giá nội dung của dự thảo Luật đã thể hiện rõ tinh thần cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số và thúc đẩy tính tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp.

ĐBQH Lê Nữ Thùy Dương (TP. Đồng Nai) phát biểu
Góp ý cụ thể về quy định bổ sung "chủ quản nền tảng thương mại điện tử" là “người khai hải quan” tại khoản 14 Điều 4, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương nhận định đây là quy định mới, có thể có một số tác động đến lĩnh vực thương mại điện tử.
Theo đại biểu, trong nhiều trường hợp, chủ quản nền tảng chỉ cung cấp hạ tầng kết nối giao dịch, không phải là chủ sở hữu hàng hóa, người nhập khẩu hoặc đơn vị trực tiếp vận chuyển. Khi được xác định là người khai hải quan, chủ quản nền tảng có thể phải thực hiện các nghĩa vụ khai báo, cung cấp chứng từ và nghĩa vụ tài chính trong phạm vi pháp luật quy định, trong khi không phải lúc nào cũng có khả năng kiểm chứng toàn bộ thông tin do người bán cung cấp. Từ thực tế này, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương đề nghị bổ sung cơ chế miễn trừ trách nhiệm khi nền tảng đã cung cấp đầy đủ thông tin theo khoản 2 Điều 16a và thực hiện đầy đủ các quy định, chẳng hạn như đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ xác minh, cung cấp trung thực dữ liệu mình nắm giữ; không thể biết thông tin sai và kịp thời hợp tác khi có yêu cầu của cơ quan hải quan.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Khánh Duy
Về quy định xác thực định danh tại khoản 3 Điều 16a: “Tổ chức, cá nhân tại Việt Nam khi mua, bán hàng hóa với nước ngoài qua nền tảng thương mại điện tử phải thực hiện xác thực định danh điện tử theo quy định”, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương đề nghị kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia, hiện nay là VNeID. Theo đại biểu, cần rà soát để tránh chồng chéo với Luật Thương mại điện tử hiện hành và kiến nghị, Luật cần quy định rõ việc xác thực định danh chỉ thực hiện một lần đối với mỗi tài khoản để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Về phạm vi kiểm định hải quan, Khoản 27 Điều 4 đưa ra khái niệm kiểm định hải quan, đồng thời Điều 16b xác định kết quả kiểm định được sử dụng làm cơ sở phân loại hàng hóa, thực hiện chính sách quản lý hàng hóa và các quy định khác của pháp luật. Theo đại biểu quy định này cần làm rõ nội hàm "tiêu chí kỹ thuật" để phân biệt với "kiểm tra chất lượng sản phẩm" theo pháp luật chuyên ngành, để tránh sự trùng lắp.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: Khánh Duy
Về cơ chế đánh giá lại, theo khoản 2 Điều 16b, trường hợp không nhất trí với kết quả đánh giá lại thì cơ quan hải quan chọn đơn vị đánh giá bổ sung và ra quyết định. Theo đại biểu, đơn vị đánh giá bổ sung để có cơ sở ra quyết định phải được lựa chọn khách quan từ danh sách tổ chức đánh giá độc lập đáp ứng điều kiện, có đủ năng lực, tư cách pháp lý phù hợp và được công bố công khai để đánh giá lại.
Nêu ý kiến đối với quy định về hàng hóa tồn đọng gây ô nhiễm môi trường tại khoản 5 và điểm b, khoản 6, Điều 58 của dự thảo Luật, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương cho rằng, cần bổ sung “chủ hàng” vào nhóm chủ thể chịu trách nhiệm, và cần quy định thứ tự trách nhiệm rõ ràng. Chủ hàng, người nhập khẩu hoặc người nhận hàng là đối tượng chịu trách nhiệm cao nhất. Doanh nghiệp cảng, kho, bãi là đơn vị chịu trách nhiệm cuối cùng nếu có lỗi, có nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc vi phạm nghĩa vụ quản lý của mình.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 6. Ảnh: Khánh Duy
Đại biểu kiến nghị, trong trường hợp khẩn cấp về môi trường, sức khỏe cộng đồng và sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp xác minh, cưỡng chế nhưng không xác định được hoặc không thể buộc chủ thể có trách nhiệm thực hiện, doanh nghiệp cảng, kho, bãi có thể tạm ứng kinh phí xử lý; đồng thời phải bảo lưu quyền yêu cầu bồi hoàn đối với chủ hàng và các chủ thể có liên quan...













