Tạo động lực tăng trưởng mới cho Huế

HNN - Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 1/4/2026 của Thành ủy Huế đã cụ thể hóa định hướng này, hướng đến nâng cao chất lượng tăng trưởng và xây dựng Huế trở thành trung tâm KHCN, ĐMST và CĐS của miền Trung và cả nước.

 Đổi mới sáng tạo để nâng tầm giá trị sản phẩm đặc trưng của Huế. Ảnh: Hoài Thương

 Đổi mới sáng tạo để nâng tầm giá trị sản phẩm đặc trưng của Huế. Ảnh: Hoài Thương

Những kết quả bước đầu tạo nền tảng mới

Huế đã hình thành nhiều tiền đề quan trọng về nghiên cứu, ứng dụng KHCN, chính quyền số, đô thị thông minh và hệ sinh thái ĐMST. Năm 2025, có 17 nhiệm vụ KHCN được công nhận và chuyển giao; 438 sáng kiến được công bố, 94 hồ sơ tham gia cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo, 52 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động. Kinh tế số ước chiếm khoảng 15% GRDP; 100% quy trình nội bộ được số hóa.

Đáng chú ý, chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của Huế năm 2025 đứng thứ 5 toàn quốc, tăng từ vị trí thứ 13 năm 2024. Huế có hệ sinh thái tri thức với Đại học Huế, Bệnh viện Trung ương Huế, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp. Huế sở hữu những “tài sản mềm” có thể tạo giá trị kinh tế lớn nếu được số hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thiết kế lại sản phẩm và kết nối thị trường.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa năng lực nghiên cứu, chính quyền số và năng lực tạo giá trị của doanh nghiệp còn đáng kể. Quy mô doanh nghiệp công nghệ nhỏ; khả năng tiếp cận vốn, thị trường và công nghệ còn hạn chế; hoạt động R&D và thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa tương xứng. Nguồn nhân lực về trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, bán dẫn và công nghệ số còn thiếu; liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp chưa thực sự tạo thành chuỗi từ nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa. Vì vậy, thước đo KHCN và ĐMST cần chuyển từ “có bao nhiêu đề tài” sang “tạo ra bao nhiêu giá trị mới, năng suất mới và doanh nghiệp mới”.

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phải được coi là chỉ báo quan trọng của chất lượng tăng trưởng. Nghị quyết 05-NQ/TU đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP đạt trên 55%, tỷ trọng kinh tế số tối thiểu 30% GRDP và PII thuộc nhóm 10 địa phương dẫn đầu.

Mở đường cho động lực tăng trưởng mới

Với Huế, động lực tăng trưởng cần được thiết kế theo lợi thế riêng, không chạy theo mọi công nghệ. Di sản và văn hóa có thể trở thành dữ liệu, nội dung và sản phẩm sáng tạo; y tế chuyên sâu có thể phát triển thành nền tảng cho y tế số, công nghệ sinh học và du lịch chăm sóc sức khỏe; nông nghiệp và vùng đầm phá phát triển theo hướng công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn; giáo dục và đại học trở thành nguồn cung tri thức, nhân lực và doanh nghiệp công nghệ.

Do đó, để mở đường cho động lực tăng trưởng mới, TP. Huế cần ưu tiên tập trung quan tâm tạo đột phá về thể chế và quản trị KHCN. Trong đó, cần đổi mới cơ chế đặt hàng, nghiệm thu theo hướng coi hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và tác động kinh tế - xã hội là tiêu chí quan trọng; nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ và mô hình kinh doanh mới; hình thành Quỹ hỗ trợ KHCN, ĐMST; đặc biệt là cần sớm xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư R&D và nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ.

Thứ hai, lấy doanh nghiệp làm trung tâm hệ sinh thái ĐMST. Thành phố cần đặt ra các “bài toán của Huế” để doanh nghiệp công nghệ, startup, viện nghiên cứu và trường đại học cùng giải quyết; thúc đẩy mô hình “ba nhà” và chuỗi liên kết từ nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất - thị trường.

Thứ ba, tập trung nguồn lực vào các ngành có lợi thế và khả năng tạo giá trị gia tăng cao. Trong văn hóa - du lịch, phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên số hóa di sản, du lịch thông minh; đẩy mạnh nội dung số, thiết kế, nghệ thuật và sản phẩm mang thương hiệu Huế… Trong nông nghiệp, đẩy mạnh công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn; ứng dụng công nghệ trong tạo giống, canh tác, bảo quản, chế biến, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử; với vùng đầm phá gắn công nghệ với nuôi trồng thủy sản bền vững, chế biến sâu, du lịch sinh thái và bảo tồn hệ sinh thái.

Thứ tư, xây dựng hạ tầng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) như hạ tầng phát triển mới. Huế cần hoàn thiện dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở, các trung tâm dữ liệu và nền tảng phân tích; thúc đẩy AI trong quản lý đô thị, du lịch, y tế, giáo dục, văn hóa và cải cách hành chính. 

Thứ năm, đầu tư cho con người và thiết chế KHCN. Cần có chính sách thu hút, giữ chân chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và doanh nhân công nghệ; ưu tiên đào tạo AI, dữ liệu, bán dẫn, công nghệ số và công nghiệp sáng tạo. Đại học Huế cần được đặt vào vị trí hạt nhân của hệ sinh thái tri thức và ĐMST, cùng các bệnh viện, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hình thành mạng lưới nghiên cứu - đào tạo - chuyển giao công nghệ. 

Thứ sáu, gắn KHCN và ĐMST với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Đặc trưng đô thị di sản, xanh, thông minh của Huế đòi hỏi công nghệ góp phần giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch và thích ứng biến đổi khí hậu.

Huế đã có nền tảng đáng kể để đưa KHCN và ĐMST trở thành động lực tăng trưởng mới. Khi đó, di sản tạo ra sản phẩm, dữ liệu trở thành nguồn lực, nghiên cứu đi vào doanh nghiệp và ĐMST trở thành năng lực cạnh tranh. Đó là con đường để Huế tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn.

HỒ THẮNG

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/khoa-hoc-cong-nghe/tao-dong-luc-tang-truong-moi-cho-hue-169660.html