Tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Cần chuyển mạnh từ 'quản lý đầu vào' sang 'quản trị theo giá trị'
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu không chỉ là 'khâu cuối' mà phải trở thành một chuỗi giá trị xuyên suốt từ ý tưởng đến thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn nhiều điểm nghẽn về cơ chế sở hữu, định giá, tổ chức trung gian và năng lực của chủ thể tham gia. Trao đổi với phóng viên, TS. Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phân tích rõ các xu hướng chính sách, những khó khăn cốt lõi và gợi mở hướng hoàn thiện nhằm tạo động lực cho thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam phát triển hiệu quả hơn.

TS. Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ). Ảnh PV
- Thưa ông, vì sao cần có chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay?
TS Nguyễn Hữu Xuyên: Nhu cầu xây dựng chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu xuất phát từ chính những chuyển biến trong cách tiếp cận phát triển khoa học và công nghệ theo hướng gắn kết chặt chẽ quyền lợi, trách nhiệm của các bên trong hệ sinh thái với kỳ vọng xã hội, người dân và doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu. Trước đây, hoạt động khoa học và công nghệ thường được quản lý theo hướng chú trọng đầu vào và quy trình nghiệm thu hành chính. Tuy nhiên, xu thế hiện nay là chuyển sang quản trị theo đầu ra, gắn với ứng dụng và thương mại hóa.
Điều này nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường. Nếu kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở báo cáo hay công bố khoa học mà không đi vào thực tiễn, thì giá trị tạo ra cho nền kinh tế là rất hạn chế. Chính sách vì vậy cần định hướng để các nhiệm vụ khoa học và công nghệ không chỉ hoàn thành về mặt học thuật mà còn tạo ra sản phẩm, dịch vụ có thể thương mại hóa.
Một điểm quan trọng khác là cơ chế sở hữu đối với kết quả nghiên cứu. Trước đây, việc sở hữu và giao quyền còn mang tính hành chính, chưa tạo động lực cho tổ chức chủ trì và nhà khoa học. Xu hướng hiện nay là giao quyền linh hoạt hơn, làm rõ quyền khai thác gắn với cơ quan chủ trì, nhà khoa học, doanh nghiệp tiếp nhận trong toàn bộ quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị gia tăng cho xã hội, từ đó khơi dậy khát vọng cống hiến và tích cực, chủ động tham gia vào quá trình thương mại hóa của các chủ thể.
Bên cạnh đó, cách tiếp cận định giá cũng đang thay đổi. Nếu chỉ định giá theo chi phí đã bỏ ra thì khó phản ánh đúng giá trị thị trường của kết quả nghiên cứu. Việc chuyển sang định giá theo thị trường hoặc thu nhập dựa vào giá trị gia tăng mà kết quả nghiên cứu có thể tạo ra, kỳ vọng sẽ giúp khơi thông giao dịch, thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Ngoài ra, liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái cũng cần được tăng cường. Nghiên cứu không thể tách rời doanh nghiệp mà phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa viện, trường, doanh nghiệp và Nhà nước. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng hấp thụ và gia tăng giá trị thương mại của kết quả nghiên cứu.
Cuối cùng, thương mại hóa cần được nhìn nhận là một chuỗi giá trị xuyên suốt, chứ không phải là khâu cuối cùng. Khi tư duy này thay đổi, hiệu quả của thị trường khoa học và công nghệ cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia sẽ được nâng lên rõ rệt.
- Vậy những xu hướng chính trong chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu hiện nay là gì, thưa ông?
TS Nguyễn Hữu Xuyên: Có thể thấy rõ một số xu hướng lớn đang định hình chính sách trong lĩnh vực này.
Thứ nhất là chuyển từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo đầu ra. Điều này không chỉ là thay đổi cách đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ mà còn kéo theo sự thay đổi trong thiết kế chính sách, từ phân bổ nguồn lực đến cơ chế đo lường và giám sát.
Thứ hai là đổi mới cơ chế sở hữu kết quả nghiên cứu theo hướng linh hoạt, rõ ràng hơn về quyền khai thác trong toàn bộ vòng đời của kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ. Khi quyền lợi được bảo đảm, các tổ chức và nhà khoa học sẽ có động lực mạnh mẽ hơn để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Thứ ba là thay đổi cách xác định giá trị của kết quả nghiên cứu. Xác định giá trị theo chi phí không còn phù hợp trong bối cảnh kinh tế tri thức. Thay vào đó, cần tiếp cận theo giá trị gia tăng hoặc dòng thu nhập gắn với đối tượng tiếp nhận, chuyển giao cụ thể mà kết quả nghiên cứu có thể mang lại. Đây là yếu tố then chốt để thúc đẩy giao dịch trên thị trường khoa học và công nghệ.
Thứ tư là thúc đẩy liên kết thực chất trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Sự kết nối giữa viện, trường và doanh nghiệp không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thương mại hóa.
Thứ năm là thay đổi cách tiếp cận đối với thương mại hóa. Thay vì coi đây là giai đoạn cuối, cần tích hợp tư duy thương mại hóa, hướng tới giá trị gia tăng gắn với đối tượng tiếp nhận, chuyên giao ngay từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu. Điều này giúp định hướng nghiên cứu sát với nhu cầu thị trường hơn.
Những xu hướng này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong tư duy quản lý mà còn là yêu cầu tất yếu để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực chính trong phát triển kinh tế - xã hội.
- Theo ông, những khó khăn cơ bản trong việc xây dựng và triển khai chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu hiện nay là gì?
TS Nguyễn Hữu Xuyên: Thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, cả về thể chế lẫn năng lực của các chủ thể tham gia.
Trước hết là vấn đề quyền sở hữu và quyền khai thác kết quả nghiên cứu chưa thực sự rõ ràng. Hành lang pháp lý cho mô hình thương mại hóa, hình thành doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) từ kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của Viện/trường, các tổ chức khoa học và công nghệ chưa thực sự hoàn thiện; chưa có nhiều cơ chế, chính sách tạo động lực cho tính khác biệt, đặc thù, vượt trội gắn với nhà khoa học, viện/trường trong hình thành doanh nghiệp khởi nguồn. Điều này khiến doanh nghiệp khởi nguồn ở Việt Nam phát triển chậm và số lượng còn rất hạn chế.
Thứ hai là thiếu cơ chế tổ chức thực thi trong hỗ trợ thương mại hóa. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu chưa có cấu trúc quản trị đủ mạnh để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp. Việc hỗ trợ hình thành doanh nghiệp khởi nguồn chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với lợi ích, quyền lợi hiện hữu của nhà khoa học, nhất là quyền sở hữu, điều hành, khai thác tài sản trí tuệ và hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu. Trong khi đó, các bộ phận hỗ trợ như văn phòng chuyển giao công nghệ, quỹ đầu tư, cơ chế ươm tạo, tư vấn pháp lý và kết nối nhà đầu tư còn phân tán. Vì thế, nhiều kết quả nghiên cứu dừng lại ở mức nghiệm thu, công bố hoặc thử nghiệm, chưa đủ điều kiện phát triển thành sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh để hình thành doanh nghiệp spin-off có khả năng vận hành độc lập trên thị trường.

TS. Nguyễn Hữu Xuyên phát biểu tại hội thảo “Mô hình và định hướng giải pháp thúc đẩy hợp tác ‘ba nhà’ giữa nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp spin-off” ngày 24-4. Ảnh PV
Thứ ba là bản thân các nhà khoa học chưa sẵn sàng đảm nhận vai trò doanh nhân. Nhiều người vẫn quen với việc công bố hoặc nghiệm thu kết quả nghiên cứu hơn là tham gia vận hành doanh nghiệp công nghệ. Trong khi đó, thông thường mô hình spin-off đòi hỏi chính nhóm nghiên cứu phải tham gia, điều hành trực tiếp.
Thứ tư là khó khăn trong huy động nguồn lực ban đầu. Các kết quả nghiên cứu thường khó tiếp cận vốn, thị trường và đối tác trong giai đoạn đầu. Do đó, nhiều kết quả không được tiếp tục hoàn thiện để trở thành sản phẩm thương mại.
Cuối cùng là liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Thiếu cơ chế gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế của thị trường khiến doanh nghiệp chưa thực sự đóng vai trò là “đầu ra” của hoạt động nghiên cứu. Vì vậy, spin-off chưa trở thành kênh thương mại hóa phổ biến.
Những khó khăn này cho thấy việc xây dựng chính sách không chỉ dừng ở thiết kế mà còn cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về thể chế, tài chính, tổ chức và con người.
- Từ kinh nghiệm quốc tế, ông có gợi mở gì cho việc hoàn thiện chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở Việt Nam?
TS Nguyễn Hữu Xuyên: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cần có cách tiếp cận tổng thể và đồng bộ.
Trước hết, cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng rõ ràng, minh bạch về quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu. Đây là nền tảng để các chủ thể yên tâm tham gia vào quá trình thương mại hóa.
Thứ hai là xây dựng và phát triển các tổ chức trung gian có vai trò hỗ trợ chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp. Đây là các tổ chức có vai trò kết nối giữa bên có công nghệ, bên có nhu cầu ứng dụng công nghệ, nhà đầu tư và cơ quan quản lý. Thông qua các dịch vụ như tư vấn công nghệ, định giá tài sản trí tuệ, môi giới chuyển giao, hỗ trợ pháp lý, ươm tạo doanh nghiệp và kết nối vốn, các tổ chức trung gian giúp kết quả nghiên cứu dễ dàng đi vào sản xuất, kinh doanh hơn. Các mô hình này cần được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nhất là năng lực của trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả và khả năng vận hành bền vững.
Thứ ba là thúc đẩy hình thành và phát triển doanh nghiệp spin-off từ các viện, trường. Đây là những doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở khai thác kết quả nghiên cứu, sáng chế, giải pháp công nghệ hoặc tri thức chuyên môn của nhà khoa học. Mô hình này là cầu nối trực tiếp giữa phòng thí nghiệm và thị trường, giúp kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở nghiệm thu, công bố, mà có thể phát triển thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh cụ thể. Tuy nhiên, để doanh nghiệp spin-off phát triển thực chất, cần có cơ chế hỗ trợ đồng bộ về vốn mồi, ưu đãi tài chính, tư vấn pháp lý, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích và đào tạo kỹ năng quản trị, khởi nghiệp cho nhà khoa học.

Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Thứ tư là cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn cho giai đoạn đầu hình thành và phát triển doanh nghiệp. Đây thường là giai đoạn rủi ro cao, tài sản bảo đảm hạn chế, dòng tiền chưa ổn định nên các doanh nghiệp khởi nguồn, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và nhóm nghiên cứu khó tiếp cận tín dụng truyền thống. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư khởi nghiệp, tổ chức tín dụng và hệ thống ngân hàng để thiết kế các công cụ phù hợp hơn, như vốn mồi, bảo lãnh tín dụng, cho vay ưu đãi, đồng đầu tư và hỗ trợ tư vấn tài chính. Qua đó, từng bước tháo gỡ rào cản về vốn, giúp các ý tưởng công nghệ có điều kiện thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm và mở rộng thị trường.
Thứ năm là tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, bao gồm Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian. Trong hệ sinh thái này, Nhà nước không nên chỉ đóng vai trò quản lý hành chính, mà cần chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo phát triển: hoàn thiện thể chế, chia sẻ rủi ro, hỗ trợ hạ tầng, thúc đẩy đặt hàng nghiên cứu và tạo không gian thử nghiệm cho các mô hình mới. Trên nền tảng đó, viện, trường có điều kiện đưa kết quả nghiên cứu ra thực tiễn; doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình xác định nhu cầu, đồng phát triển công nghệ và thương mại hóa sản phẩm. Qua đó, giúp hình thành quan hệ hợp tác bền vững, có lợi ích rõ ràng và gắn đổi mới sáng tạo với nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, việc triển khai các mô hình thí điểm cũng rất quan trọng. Thông qua thí điểm, có thể kiểm chứng tính hiệu quả của chính sách, từ đó điều chỉnh và nhân rộng. Các mô hình này cần được xây dựng theo logic rõ ràng, gắn với điều kiện thực tiễn và có cơ chế đánh giá cụ thể.
Tóm lại, chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu cần được thiết kế theo hướng lấy thị trường làm trung tâm, đồng thời đảm bảo sự tham gia chủ động của tất cả các bên liên quan. Khi đó, thị trường khoa học và công nghệ mới có thể phát triển một cách bền vững và hiệu quả.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!











