Tạo 'đường dẫn' cho dòng vốn quốc tế

Hàng loạt dự án hạ tầng, đô thị, hàng không, đường sắt và chuyển đổi xanh đang đặt ra nhu cầu vốn dài hạn rất lớn. Trong bối cảnh nguồn lực trong nước có giới hạn, việc mở rộng các kênh huy động và đưa dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế ngày càng trở nên cấp thiết.

Nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng đặt ra yêu cầu đa dạng hóa các kênh huy động vốn. Ảnh: M.H

Nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng đặt ra yêu cầu đa dạng hóa các kênh huy động vốn. Ảnh: M.H

Dòng vốn quốc tế tìm điểm đến mới

Dòng vốn quốc tế vào Việt Nam đang duy trì đà tăng, trong khi nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn cũng mở ra thêm không gian để các nhà đầu tư nước ngoài tham gia.

Nhu cầu huy động nguồn vốn dài hạn càng rõ nét khi Việt Nam phải dành nguồn lực lớn cho quá trình chuyển đổi xanh và nâng cao khả năng chống chịu của hạ tầng. Theo Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và Phát triển của Ngân hàng Thế giới (World Bank), tổng nhu cầu tài trợ khí hậu lũy kế của Việt Nam đến năm 2040 tương đương 6% GDP. Trong đó, nhóm giải pháp thích ứng và tăng khả năng chống chịu hạ tầng cần khoảng 254 tỷ USD; 114 tỷ USD còn lại phục vụ các mục tiêu giảm nhẹ phát thải và khử carbon. Trong khi nguồn lực công còn hạn chế, khu vực tư nhân được kỳ vọng đóng góp tới 184 tỷ USD thông qua các kênh tín dụng, trái phiếu và cổ phiếu xanh.

Theo Trang thông tin điện tử Đầu tư Nước ngoài, trong 7 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD, vốn điều chỉnh 10,43 tỷ USD và vốn thông qua góp vốn, mua cổ phần 6,58 tỷ USD. Vốn đầu tư thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%. Ông Neil MacGregor - Tổng Giám đốc Savills Việt Nam cũng nhận định, những con số thu hút vốn nước ngoài của Việt Nam cho thấy, Việt Nam tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn quốc tế. Đáng chú ý, tháng 8/2026, Bộ Xây dựng đề xuất đưa 4 dự án đường sắt vào dự thảo Danh mục quốc gia các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2026-2030. Các dự án gồm Biên Hòa - Vũng Tàu, TPHCM - Cần Thơ - Cà Mau, Vũng Áng – Mụ Giạ và Tháp Chàm - Đà Lạt với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 445.100 tỷ đồng, tương đương khoảng 17 tỷ USD. Các dự án này được đề xuất triển khai theo phương thức PPP, mở thêm dư địa để nguồn vốn tư nhân và quốc tế tham gia vào những công trình có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

Quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và yêu cầu đa dạng hóa nguồn lực đang đặt ra nhu cầu về những kênh huy động vốn mới, có khả năng kết nối trực tiếp với các định chế tài chính và nhà đầu tư quốc tế. Đây cũng là khoảng trống mà Trung tâm tài chính quốc tế TPHCM (VIFC-HCMC) được kỳ vọng trở thành một trong những kênh dẫn vốn toàn cầu cho nền kinh tế. Không chỉ thu hút vốn đầu tư trực tiếp, VIFC-HCMC có thể mở rộng khả năng huy động các nguồn vốn dài hạn thông qua thị trường vốn, quỹ đầu tư, tín dụng xanh, tài chính số và các sản phẩm tài chính quốc tế. Đây là nguồn lực đặc biệt cần thiết trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng, chuyển đổi xanh, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các dự án quy mô lớn ngày càng tăng.

Tăng sức hấp thụ vốn

Khi nhu cầu vốn dài hạn ngày càng lớn, vai trò của những thiết chế có khả năng kết nối và dẫn dòng vốn vào nền kinh tế cũng trở nên rõ nét hơn. Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Hòa - Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TPHCM kỳ vọng, VIFC-HCMC sớm vận hành với các cơ chế, định chế và chính sách phù hợp để thu hút các quỹ đầu tư và dòng vốn từ bên ngoài. Khi đó, thị trường sẽ có thêm nguồn lực mới, thay vì chủ yếu dựa vào vốn trong dân và tín dụng ngân hàng.

Để dòng vốn quốc tế thực sự đi vào nền kinh tế, bài toán đặt ra không chỉ là thu hút mà còn phải tạo được một thị trường đủ sức kết nối và hấp thụ nguồn vốn này. PGS-TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, cho hay, VIFC-HCMC hướng tới tạo môi trường để dòng vốn quốc tế vào Việt Nam thuận lợi hơn với các sản phẩm tài chính đa dạng và cơ chế đủ sức tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Trong năm 2026, trọng tâm được xác định là chuyển từ khung pháp lý sang thị trường thực tế. Trong đó, tập trung vào các lĩnh vực như: quản lý quỹ và tài sản, thị trường vốn, trái phiếu quốc tế, tài chính xanh, fintech, tài sản số, tài chính hàng không và hàng hải. Theo ông Huân, VIFC-HCMC đặt mục tiêu thu hút vài tỷ USD ngay trong năm đầu tiên, tiến tới 10-15 tỷ USD/năm. Trọng tâm trước mắt là các quỹ đầu tư toàn cầu, vốn được đánh giá có tốc độ giải ngân nhanh, cùng với phát hành trái phiếu quốc tế và phát triển hệ thống công nghệ tài chính.

Bên cạnh việc tạo thêm những đường dẫn vốn, bài toán đặt ra là làm sao chuyển các cơ hội đầu tư thành những dự án đủ sức hấp dẫn và có khả năng tiếp nhận dòng vốn quốc tế. Theo ông Neil MacGregor, Việt Nam không thiếu cơ hội đầu tư. Điều quan trọng trong giai đoạn tiếp theo là chuyển những cơ hội này thành các dự án đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư và có khả năng triển khai hiệu quả. Nhà đầu tư sẽ xem xét tiềm năng tăng trưởng, đồng thời đánh giá tính rõ ràng về pháp lý và khả năng triển khai trong dài hạn. Những yếu tố này ngày càng quyết định mức độ hấp dẫn và khả năng tiếp nhận đầu tư của một dự án, đặc biệt khi dòng vốn quốc tế được kỳ vọng tham gia ngày càng sâu vào các dự án hạ tầng, đô thị và bất động sản quy mô lớn.

Khi Việt Nam tiếp tục mở rộng quy mô đầu tư, đa dạng hóa nguồn vốn sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Với các dự án hạ tầng quy mô lớn, yêu cầu đặt ra không chỉ là tìm thêm nguồn vốn mà phải phân bổ và hấp thụ vốn hiệu quả. Việc kết nối hiệu quả các kênh vốn sẽ giúp hạ tầng có thêm nguồn lực đầu tư, trở thành điểm tựa cho một chu kỳ tăng trưởng dài hạn.

Thanh Giang

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/tao-duong-dan-cho-dong-von-quoc-te.html