Tàu ngầm mang máy bay lớp I-400: Vũ khí độc đáo của Hải quân Nhật Bản thời Thế chiến II
Lớp tàu ngầm I-400 được Nhật Bản thiết kế mang 3 máy bay Aichi M6A1 Seiran nhằm tập kích kênh đào Panama, nhưng chiến tranh kết thúc trước khi triển khai.
Trong Thế chiến II, Hải quân Nhật Bản đã hiện thực hóa một ý tưởng quân sự táo bạo: chế tạo lớp tàu ngầm khổng lồ I-400 có khả năng mang theo máy bay tấn công trong khoang kín nước. Ý tưởng này cho phép tàu ngầm bí mật vượt đại dương, nổi lên mặt nước để phóng máy bay tập kích các mục tiêu chiến lược cách xa hàng trăm kilômét rồi biến mất dưới lòng biển.
Ý tưởng kết hợp tàu ngầm và không quân trong lịch sử
Khái niệm triển khai máy bay từ tàu ngầm bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ Thế chiến I. Vào tháng 1/1915, tàu ngầm U-12 của Hải quân Đức đã mang một thủy phi cơ trinh sát Friedrichshafen FF.29 trên boong. Trong quá trình thử nghiệm, tàu ngầm hạ thấp phần mũi để chiếc FF.29 nổi trên mặt nước và cất cánh.

Tàu ngầm U-12 của Hải quân Đức với một thủy phi cơ trinh sát Friedrichshafen FF.29 trên boong. Ảnh: Quân đội Đức
Đến năm 1916, Hải quân Anh thử nghiệm đưa hai thủy phi cơ Sopwith Schneider ra khu vực Bắc Hải bằng tàu ngầm HMS E22. Những thử nghiệm ban đầu này cho thấy tàu ngầm có thể gia tăng đáng kể tầm quan sát trinh sát cho thủy thủ đoàn. Tuy nhiên, việc đặt máy bay trực tiếp trên boong khiến chúng phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thời tiết và làm giảm khả năng lặn nhanh của tàu ngầm khi gặp nguy hiểm.
Các thử nghiệm mang máy bay trên tàu ngầm của các cường quốc
Sang thập niên 1920, các quốc gia như Mỹ, Anh và Pháp bắt đầu thiết kế khoang chứa kín nước trên tàu ngầm nhằm bảo vệ máy bay khi lặn. Hải quân Mỹ sử dụng tàu ngầm S-1 lắp khoang hình trụ để chứa thủy phi cơ Martin MS-1 đã tháo rời từ năm 1923.

HMS M2, một trong những tàu ngầm mang máy bay đầu tiên của Anh, trong ảnh chụp năm 1933. Máy bay được tháo rời và cất trong khoang kín nước, sau đó nhanh chóng lắp ráp lại để cất cánh khi cần. Ảnh: Wikimedia Commons
Hải quân Anh cải tiến tàu ngầm HMS M2 bằng cách tháo khẩu pháo 305 mm để thay bằng khoang chứa thủy phi cơ Parnall Peto cùng máy phóng. Tuy nhiên, dự án dừng lại sau sự cố chìm tàu HMS M2 vào tháng 1/1932 làm 60 thủy thủ thiệt mạng. Cùng thời điểm, Pháp phát triển tàu ngầm Surcouf trang bị pháo 203 mm và thủy phi cơ Besson MB.411, nhưng con tàu cũng mất tích tại vùng biển Caribe vào năm 1942.
Trước khi chế tạo lớp I-400, Hải quân Nhật Bản đã đưa vào vận hành khoảng 40 tàu ngầm có khoang chứa thủy phi cơ trinh sát. Tiêu biểu là thủy phi cơ Yokosuka E14Y, loại máy bay từng được tàu ngầm I-25 triển khai để thả bom cháy xuống vùng rừng Oregon (Mỹ) vào tháng 9/1942.

Máy bay Yokosuka E14Y. Ảnh: Wikipedia
Lớp I-400: Thiết kế tàu ngầm sân bay khổng lồ của Nhật Bản
Sau khi chiến tranh bùng nổ tại Thái Bình Dương, Đô đốc Isoroku Yamamoto chỉ đạo phát triển dòng tàu ngầm tầm xa Sen-Toku (lớp I-400). Mục tiêu là chế tạo phương tiện có tầm hoạt động 40.000 hải lý, đủ sức mang theo máy bay trang bị bom nặng 800 kg hoặc ngư lôi tấn công mục tiêu chiến lược.

Tranh minh họa tàu ngầm I-400 do một họa sĩ của Hải quân Mỹ thực hiện sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: Hải quân Mỹ
Tàu ngầm lớp I-400 có chiều dài khoảng 122 m và tầm hoạt động đạt 37.500 hải lý. Đây là những tàu ngầm lớn nhất thế giới vào thời điểm đó và giữ kỷ lục này cho đến khi tàu ngầm hạt nhân ra đời vào thập niên 1960. Khoang chứa hình trụ đường kính 3,5 m trên boong cho phép chứa ba máy bay tấn công Aichi M6A1 Seiran.

Tàu ngầm I-401 với khoang chứa máy bay dài và máy phóng bố trí ở phía trước. Ảnh: WIkipedia
Máy bay Aichi M6A1 Seiran được thiết kế chuyên biệt với phần cánh có thể xoay và gập sát thân để vừa với khoang chứa. Quy trình chuẩn bị được tối ưu hóa nhằm rút ngắn thời gian nổi trên mặt nước: hệ thống cho phép hâm nóng dầu bôi trơn và chất làm mát động cơ ngay từ trong khoang, giúp thời gian phóng 3 máy bay chỉ mất khoảng 15 đến 30 phút.

Máy bay Aichi M6A của Nhật Bản. Ảnh: Wikipedia
Kế hoạch tấn công kênh đào Panama và cái kết của dự án
Đến năm 1944, Nhật Bản xây dựng kế hoạch sử dụng các tàu ngầm I-400, I-401, I-13 và I-14 mang theo 10 máy bay Seiran tập kích hệ thống âu tàu Gatun thuộc kênh đào Panama. Mục đích của chiến dịch là làm gián đoạn tuyến vận tải kết nối Đại Tây Dương và Thái Bình Dương của Quân đội Mỹ.

Tàu sân bay USS Ranger (CV-4) đi qua kênh đào Panama vào tháng 10/1945, không lâu sau khi Thế chiến II kết thúc. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Nhật Bản từng cân nhắc tiến hành một cuộc không kích nhằm vào kênh đào Panama bằng máy bay được triển khai từ tàu ngầm, nhưng kế hoạch này chưa bao giờ được thực hiện. Ảnh: Hải quân Mỹ
Tuy nhiên, do thiếu hụt nguyên vật liệu và cục diện chiến tranh thay đổi, Nhật Bản chỉ hoàn thành 3 tàu ngầm lớp I-400. Kế hoạch đánh kênh đào Panama bị hủy bỏ và chuyển sang mục tiêu căn cứ Hải quân Mỹ tại atoll Ulithi. Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng khi các tàu ngầm đang trên đường thực hiện nhiệm vụ, khiến chiến dịch không bao giờ diễn ra.

Các sĩ quan của tàu ngầm I-400 đứng trước khoang chứa máy bay, trong bức ảnh do Hải quân Mỹ chụp sau khi con tàu đầu hàng trên biển, một tuần sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: Wikipedia
Vì sao mô hình tàu ngầm mang máy bay không tiếp tục phát triển?
Mặc dù lớp I-400 chứng minh tính khả thi về mặt kỹ thuật, mô hình tàu ngầm mang máy bay bộc lộ nhiều hạn chế lớn về mặt chiến thuật. Việc triển khai và thu hồi máy bay đòi hỏi tàu phải nổi trên mặt nước trong thời gian dài, khiến tàu dễ bị phát hiện và tấn công.

Hải quân Mỹ kiểm tra khẩu pháo trên tàu ngầm I-400. Ảnh: Wikipedia
Ngoài ra, việc tích hợp khoang chứa, máy phóng, nhiên liệu hàng không và phụ tùng đòi hỏi kích thước tàu ngầm phải rất lớn, làm gia tăng chi phí chế tạo nhưng chỉ mang được số lượng máy bay hạn chế. Sau chiến tranh, Hải quân Mỹ đã thu giữ, nghiên cứu và sau đó đánh chìm các tàu ngầm lớp I-400 vào năm 1946 tại vùng biển ngoài khơi Hawaii.



