Tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-118 Peacekeeper: 'Át chủ bài' hạt nhân của Mỹ cuối thời Chiến tranh Lạnh

Sở hữu khả năng mang nhiều đầu đạn hạt nhân độc lập cùng độ chính xác rất cao, LGM-118 Peacekeeper được xem là một trong những tên lửa đạn đạo xuyên lục địa uy lực nhất từng được Mỹ triển khai.

Được đưa vào biên chế năm 1986, tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-118 Peacekeeper (MX Missile) là thế hệ ICBM hiện đại được Mỹ phát triển nhằm đối phó với các hệ thống tên lửa chiến lược ngày càng tiên tiến của Liên Xô trong giai đoạn cuối Chiến tranh Lạnh.

Được đưa vào biên chế năm 1986, tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-118 Peacekeeper (MX Missile) là thế hệ ICBM hiện đại được Mỹ phát triển nhằm đối phó với các hệ thống tên lửa chiến lược ngày càng tiên tiến của Liên Xô trong giai đoạn cuối Chiến tranh Lạnh.

Không giống người tiền nhiệm là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-25C Titan II sử dụng nhiên liệu lỏng, Peacekeeper sử dụng động cơ nhiên liệu rắn 3 tầng.

Không giống người tiền nhiệm là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-25C Titan II sử dụng nhiên liệu lỏng, Peacekeeper sử dụng động cơ nhiên liệu rắn 3 tầng.

Thiết kế này giúp giảm đáng kể thời gian chuẩn bị phóng, nâng cao độ an toàn trong vận hành và đơn giản hóa công tác bảo dưỡng.

Thiết kế này giúp giảm đáng kể thời gian chuẩn bị phóng, nâng cao độ an toàn trong vận hành và đơn giản hóa công tác bảo dưỡng.

Một trong những điểm nổi bật nhất của Peacekeeper là khả năng mang nhiều đầu đạn hạt nhân độc lập (MIRV).

Một trong những điểm nổi bật nhất của Peacekeeper là khả năng mang nhiều đầu đạn hạt nhân độc lập (MIRV).

Mỗi tên lửa có thể mang tối đa 10 đầu đạn hạt nhân W-87, mỗi đầu đạn có sức công phá khoảng 300 kiloton TNT.

Mỗi tên lửa có thể mang tối đa 10 đầu đạn hạt nhân W-87, mỗi đầu đạn có sức công phá khoảng 300 kiloton TNT.

Hệ thống dẫn đường cho phép các đầu đạn tấn công nhiều mục tiêu khác nhau trong cùng một lần phóng, tạo nên năng lực răn đe vượt trội.

Hệ thống dẫn đường cho phép các đầu đạn tấn công nhiều mục tiêu khác nhau trong cùng một lần phóng, tạo nên năng lực răn đe vượt trội.

Peacekeeper có chiều dài 21,8 m, đường kính 2,34 m và khối lượng phóng gần 88 tấn. Tên lửa đạt tầm bắn hơn 9.600 km, đủ khả năng tấn công các mục tiêu chiến lược trên phạm vi liên lục địa với sai số chỉ khoảng vài chục mét - mức rất cao đối với một ICBM thời điểm đó.

Peacekeeper có chiều dài 21,8 m, đường kính 2,34 m và khối lượng phóng gần 88 tấn. Tên lửa đạt tầm bắn hơn 9.600 km, đủ khả năng tấn công các mục tiêu chiến lược trên phạm vi liên lục địa với sai số chỉ khoảng vài chục mét - mức rất cao đối với một ICBM thời điểm đó.

Hệ thống dẫn đường quán tính kết hợp máy tính điều khiển hiện đại giúp Peacekeeper trở thành một trong những tên lửa có độ chính xác cao nhất thế giới khi được đưa vào biên chế.

Hệ thống dẫn đường quán tính kết hợp máy tính điều khiển hiện đại giúp Peacekeeper trở thành một trong những tên lửa có độ chính xác cao nhất thế giới khi được đưa vào biên chế.

Điều này cho phép nó đủ khả năng tấn công các hầm chứa tên lửa kiên cố của đối phương thay vì chỉ nhắm vào các mục tiêu diện rộng.

Điều này cho phép nó đủ khả năng tấn công các hầm chứa tên lửa kiên cố của đối phương thay vì chỉ nhắm vào các mục tiêu diện rộng.

Ban đầu, Mỹ từng nghiên cứu nhiều phương án triển khai Peacekeeper, từ đường sắt, hầm ngầm cơ động đến bệ phóng di động.

Ban đầu, Mỹ từng nghiên cứu nhiều phương án triển khai Peacekeeper, từ đường sắt, hầm ngầm cơ động đến bệ phóng di động.

Tuy nhiên, cuối cùng toàn bộ 50 tên lửa được bố trí trong các giếng phóng từng sử dụng cho tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-25C Titan II tại căn cứ không quân Francis E. Warren ở bang Wyoming.

Tuy nhiên, cuối cùng toàn bộ 50 tên lửa được bố trí trong các giếng phóng từng sử dụng cho tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-25C Titan II tại căn cứ không quân Francis E. Warren ở bang Wyoming.

Trong suốt thời gian phục vụ, Peacekeeper được coi là thành phần quan trọng của bộ ba răn đe hạt nhân Mỹ, cùng với tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và máy bay ném bom chiến lược.

Trong suốt thời gian phục vụ, Peacekeeper được coi là thành phần quan trọng của bộ ba răn đe hạt nhân Mỹ, cùng với tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và máy bay ném bom chiến lược.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược (SORT) cùng những thay đổi trong môi trường an ninh khiến Mỹ quyết định loại biên dòng tên lửa này.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược (SORT) cùng những thay đổi trong môi trường an ninh khiến Mỹ quyết định loại biên dòng tên lửa này.

Quá trình rút khỏi biên chế bắt đầu năm 2002 và hoàn tất vào năm 2005. Các đầu đạn W-87 sau đó được chuyển sang trang bị cho tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-30G Minuteman III nhằm kéo dài năng lực răn đe hạt nhân của Mỹ.

Quá trình rút khỏi biên chế bắt đầu năm 2002 và hoàn tất vào năm 2005. Các đầu đạn W-87 sau đó được chuyển sang trang bị cho tên lửa đạn đạo xuyên lục địa LGM-30G Minuteman III nhằm kéo dài năng lực răn đe hạt nhân của Mỹ.

Mặc dù chỉ phục vụ chưa đầy 20 năm, LGM-118 Peacekeeper vẫn được đánh giá là một trong những tên lửa đạn đạo xuyên lục địa tiên tiến nhất từng được chế tạo.

Mặc dù chỉ phục vụ chưa đầy 20 năm, LGM-118 Peacekeeper vẫn được đánh giá là một trong những tên lửa đạn đạo xuyên lục địa tiên tiến nhất từng được chế tạo.

Khả năng mang nhiều đầu đạn, độ chính xác rất cao và sức mạnh tấn công vượt trội đã giúp dòng tên lửa này trở thành biểu tượng của công nghệ tên lửa chiến lược Mỹ trong giai đoạn cuối Chiến tranh Lạnh.

Khả năng mang nhiều đầu đạn, độ chính xác rất cao và sức mạnh tấn công vượt trội đã giúp dòng tên lửa này trở thành biểu tượng của công nghệ tên lửa chiến lược Mỹ trong giai đoạn cuối Chiến tranh Lạnh.

Việt Hùng

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/ten-lua-dan-dao-xuyen-luc-dia-lgm-118-peacekeeper-at-chu-bai-hat-nhan-cua-my-cuoi-thoi-chien-tranh-lanh-post661802.antd