Thách thức trong xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Nói đến đổi mới sáng tạo, người ta thường nghĩ đến công nghệ, bằng sáng chế, startup, quỹ đầu tư, phòng thí nghiệm... Nhưng ở tầng sâu hơn, đổi mới sáng tạo là từ con người và từ một nền văn hóa khuyến khích con người dám nghĩ khác, dám đặt câu hỏi, dám thử nghiệm, dám thất bại và dám biến tri thức thành những giá trị mới.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Phenikaa.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Phenikaa.

Không có con người đổi mới sáng tạo và văn hóa đổi mới sáng tạo thì không thể có công cuộc đổi mới sáng tạo thực chất. Với Việt Nam, thách thức lớn là chuyển hóa năng lực tiếp biến, linh hoạt và thích nghi vốn có thành năng lực sáng tạo có tổ chức, để đất nước không chỉ bắt kịp thay đổi mà còn chủ động tạo ra thay đổi.

Văn hóa khoa học là nền móng của đổi mới sáng tạo

Lịch sử văn hóa phương Tây có thể được nhìn như một lịch sử biến đổi của các thiết chế sản xuất tri thức, trong đó đại học giữ vai trò trung tâm. Đại học không chỉ là nơi dạy học mà còn phản ánh cách một nền văn minh hiểu về chân lý, con người, tiến bộ và trật tự xã hội.

Ở thời Trung Cổ, đại học phương Tây gắn liền với văn hóa kinh viện. Các đại học như Bologna, Paris hay Oxford chủ yếu bảo tồn, diễn giải và truyền dạy những chân lý đã được xác lập bởi thần học và truyền thống. Tri thức khi đó gắn với thẩm quyền, kinh điển và trật tự xã hội ổn định. Tuy nhiên, ngay trong lòng văn hóa kinh viện cũng hình thành những mầm mống của lý tính, tranh biện và việc hệ thống hóa tri thức.

Trong thời kỳ Phục hưng, Cách mạng khoa học và Khai sáng, phương Tây chuyển dần từ văn hóa bảo tồn chân lý sang văn hóa khám phá chân lý. Đại học thế hệ thứ hai, tiêu biểu là mô hình Humboldt ở Đức thế kỷ XIX, đánh dấu sự ra đời của văn hóa khoa học hiện đại. Đại học không chỉ truyền bá tri thức mà còn phải tạo ra tri thức mới. Tự do học thuật, hoài nghi khoa học, nghiên cứu chuyên sâu và tinh thần kiểm chứng trở thành những giá trị nền tảng. Từ đây, tri thức trở thành sức mạnh sản xuất, gắn liền với cách mạng công nghiệp, kỹ thuật hiện đại và nền kinh tế công nghiệp.

Bài học cốt lõi ở đây là không có văn hóa khoa học thì khó có văn hóa đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo không thể phát triển bền vững trong môi trường coi trọng học thuộc hơn chất vấn, thẩm quyền hơn bằng chứng, an toàn hơn thử nghiệm. Nó cần con người có tư duy độc lập, năng lực kiểm chứng, khả năng tranh luận và tinh thần sửa sai trước dữ liệu mới.

Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, công nghệ số, Internet, toàn cầu hóa, trí tuệ nhân tạo và kinh tế tri thức tiếp tục làm thay đổi vai trò của tri thức. Tri thức không chỉ cần đúng và mới, mà còn phải tạo ra giá trị. Đại học thế hệ thứ ba vì vậy trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nơi kết nối đào tạo, nghiên cứu, startup, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp, nhà nước và xã hội.

Stanford và MIT là biểu tượng của kiểu văn hóa mới ấy: văn hóa biến tri thức thành công nghệ, công nghệ thành doanh nghiệp, doanh nghiệp thành hệ sinh thái, và hệ sinh thái thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong văn hóa đó, câu hỏi dành cho tri thức không chỉ là “điều này có đúng không?” mà còn là “điều này giải quyết vấn đề gì, tạo ra giá trị gì và mở ra tương lai nào?”.

Đổi mới sáng tạo phải gắn với trách nhiệm xã hội

Văn hóa đổi mới sáng tạo của thế giới hiện đại không chỉ gắn với công nghệ, mà trước hết là một năng lực kiến tạo tương lai. Năng lực ấy được hình thành từ 4 nền tảng: liên ngành, thử nghiệm, kết nối và tạo giá trị.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức (thứ tư từ trái sang) cùng các nhà khoa học trao đổi phát triển công nghệ drone tích hợp.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức (thứ tư từ trái sang) cùng các nhà khoa học trao đổi phát triển công nghệ drone tích hợp.

Trước hết, đó là văn hóa liên ngành. Những vấn đề lớn của thế kỷ XXI như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, giáo dục số, an ninh mạng, năng lượng sạch, y học chính xác hay trí tuệ nhân tạo không thể được giải quyết trong phạm vi của một ngành riêng lẻ. Chúng đòi hỏi sự tham gia của các nhà khoa học, kỹ sư, doanh nhân, nhà quản lý và cộng đồng để cùng giải quyết những bài toán phức tạp.

Thứ hai là văn hóa thử nghiệm. Trong xã hội đổi mới sáng tạo, thử nhanh, học nhanh, sửa nhanh trở thành một lợi thế. Thất bại không được xem là dấu chấm hết, mà là một phần của quá trình học hỏi. Tuy nhiên, thử nghiệm không có nghĩa là làm ẩu; nó phải dựa trên dữ liệu, phương pháp, đạo đức và năng lực quản trị rủi ro.

Thứ ba là văn hóa kết nối. Đổi mới sáng tạo không còn là hành động đơn độc của một cá nhân thiên tài, mà diễn ra trong một hệ sinh thái gồm đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà nước, thị trường và người dùng. Một ý tưởng chỉ trở thành đổi mới khi đi qua các cầu nối: nghiên cứu, thử nghiệm, sở hữu trí tuệ, sản phẩm mẫu, mô hình kinh doanh, vốn, thị trường và chính sách.

Thứ tư là văn hóa tạo ra giá trị. Tri thức không chỉ nằm trong giáo trình, bài giảng hay bài báo, mà còn cần được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, chính sách, năng suất, chất lượng sống và năng lực cạnh tranh. Điều đó không làm giảm giá trị của nghiên cứu cơ bản, mà đòi hỏi cơ chế lưu thông hiệu quả giữa khoa học, công nghệ, doanh nghiệp và xã hội.

Tuy nhiên, văn hóa đổi mới sáng tạo không phải là chạy theo cái mới bằng mọi giá. Nếu bị thị trường chi phối quá mức, đổi mới có thể dẫn tới thương mại hóa tri thức, áp lực về tốc độ, bất bình đẳng công nghệ và suy giảm chiều sâu nhân văn. Vì vậy, một nền văn hóa đổi mới sáng tạo trưởng thành phải gắn sáng tạo với trách nhiệm xã hội, công nghệ với nhân văn, thị trường với lợi ích công cộng. Nói cách khác, đó là văn hóa kiến tạo tương lai có trách nhiệm.

Thách thức xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Việt Nam bước vào bài toán đổi mới sáng tạo với một nền tảng văn hóa rất đặc thù. Trong gần suốt chiều dài lịch sử, văn hóa Việt Nam phát triển chủ yếu theo cơ chế tiếp biến: vừa tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài, vừa cải biến để bảo vệ cấu trúc bản địa. Từ văn hóa lúa nước, làng xã, tín ngưỡng tổ tiên đến quá trình tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, phương Tây, chủ nghĩa cách mạng, kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, Việt Nam luôn cho thấy năng lực dung hợp mạnh mẽ: mềm dẻo, linh hoạt, thích nghi nhanh nhưng không dễ hòa tan.

Đó là một lợi thế lớn trong thời đại biến động. Một dân tộc không biết tiếp biến sẽ dễ khép kín; một nền văn hóa không biết thích nghi sẽ dễ bị bỏ lại. Tuy nhiên, thích nghi không tự động trở thành đổi mới sáng tạo. Tiếp nhận cái mới không đồng nghĩa với tạo ra cái mới; linh hoạt trong ứng xử không đồng nghĩa với tư duy hệ thống; giỏi xoay xở chưa chắc đã trở thành năng lực phát minh, sáng chế, thiết kế công nghệ hay kiến tạo mô hình phát triển mới.

Gian hàng trưng bày sản phẩm tại Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2025.

Gian hàng trưng bày sản phẩm tại Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2025.

Đây chính là điểm mà Việt Nam cần vượt qua. Chúng ta có thể tiếp thu rất nhanh các khái niệm mới như chuyển đổi số, startup, trí tuệ nhân tạo, kinh tế tri thức, đại học thông minh hay đô thị sáng tạo. Nhưng từ việc tiếp thu khái niệm đến chuyển hóa văn hóa là một khoảng cách dài. Có khẩu hiệu đổi mới sáng tạo chưa có nghĩa là có văn hóa đổi mới sáng tạo; có trung tâm đổi mới sáng tạo chưa có nghĩa là có con người đổi mới sáng tạo; có cuộc thi khởi nghiệp chưa có nghĩa là giáo dục đã chấp nhận tư duy thử nghiệm, thất bại và phản biện.

Vấn đề càng phức tạp hơn khi Việt Nam đang ở trong trạng thái “nén lịch sử”. Đại học Nho học truyền thống chưa kết thúc hoàn toàn thì đại học thuộc địa đã xuất hiện; đại học nghiên cứu hiện đại chưa trưởng thành đầy đủ thì xã hội đã bước vào kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Vì vậy, tại cùng một thời điểm, Việt Nam tồn tại đồng thời tư duy đại học thế hệ thứ nhất, cơ chế quản trị đại học thế hệ thứ hai và áp lực cạnh tranh của đại học thế hệ thứ ba.

Nói cách khác, sinh viên được yêu cầu sáng tạo nhưng vẫn chịu áp lực thi cử; giảng viên được yêu cầu nghiên cứu nhưng vẫn bị ràng buộc bởi thủ tục hành chính; đại học được yêu cầu đổi mới sáng tạo nhưng nhiều nơi vẫn vận hành chủ yếu như cơ sở đào tạo; doanh nghiệp cần công nghệ nhưng liên kết với đại học còn lỏng; nhà nước muốn thúc đẩy đổi mới nhưng cơ chế thử nghiệm, chấp nhận rủi ro và bảo vệ người dám làm còn chưa đủ mạnh. Đây không chỉ là vấn đề quản lý. Sâu xa hơn, đó là vấn đề về chuyển hóa văn hóa phát triển.

Thách thức của Việt Nam không chỉ là thiếu nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, mà sâu xa hơn là thiếu một hệ sinh thái văn hóa đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và lan tỏa đổi mới sáng tạo.

Trước hết, đổi mới sáng tạo vẫn thường được hiểu quá hẹp, như một hoạt động công nghệ, một phong trào khởi nghiệp, một cuộc thi ý tưởng hay một chương trình chuyển đổi số. Cách hiểu này cần thiết nhưng chưa đủ. Đổi mới sáng tạo phải được nhìn nhận như một năng lực tổng hợp của con người, tổ chức và quốc gia, bao gồm tư duy phản biện, năng lực khoa học, tinh thần doanh nhân, khả năng kết nối, quản trị rủi ro và trách nhiệm xã hội.

Thách thức tiếp theo nằm trong lĩnh vực giáo dục. Một nền giáo dục nặng về ghi nhớ, đáp án mẫu và kiểm tra chuẩn hóa khó có thể tạo ra một thế hệ sáng tạo mạnh mẽ. Đổi mới sáng tạo cần người học biết đặt câu hỏi, làm việc theo dự án, kết nối tri thức với các vấn đề thực tiễn, biết tranh luận, hợp tác và chấp nhận thất bại. Muốn có quốc gia đổi mới sáng tạo, trước hết phải có nhà trường đổi mới sáng tạo.

Đại học cũng đang đứng trước yêu cầu chuyển từ cơ sở đào tạo nhân lực sang thiết chế sản xuất tri thức, công nghệ và giá trị xã hội. Nhưng quá trình này khó thành công nếu đại học thiếu tự chủ thực chất, thiếu tự do học thuật, thiếu môi trường nghiên cứu trung thực, thiếu đầu tư dài hạn và thiếu cơ chế hợp tác hiệu quả với doanh nghiệp. Đại học thế hệ mới không thể được xây dựng chỉ bằng vài trung tâm khởi nghiệp mà đòi hỏi phải thay đổi toàn bộ văn hóa đại học.

Một rào cản lớn khác là văn hóa an toàn. Nhiều tổ chức vẫn ưu tiên phương án ít rủi ro hơn phương án sáng tạo. Người trẻ có ý tưởng mới nhưng thiếu không gian để thử nghiệm; nhà khoa học muốn theo đuổi hướng nghiên cứu mới nhưng thiếu tài trợ dài hạn; cán bộ quản lý muốn làm khác nhưng sợ sai, sợ bị đặt ra trách nhiệm. Trong môi trường như vậy, đổi mới sáng tạo dễ trở thành khẩu hiệu, còn hành vi thực tế vẫn là giữ gìn an toàn.

Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá còn nặng về số lượng và thủ tục. Nếu chỉ đo lường bài báo, đề tài, hội thảo, văn bản hay hồ sơ, các tổ chức sẽ tối ưu hóa hình thức thay vì tác động. Văn hóa đổi mới sáng tạo cần một hệ thống đánh giá mới, chú trọng công nghệ được chuyển giao, sản phẩm mẫu, sáng chế được khai thác, doanh thu công nghệ, spin-off, hợp đồng doanh nghiệp, đóng góp chính sách và giá trị tạo ra cho xã hội.

Cuối cùng, Việt Nam cần tránh sao chép máy móc mô hình bên ngoài. Chúng ta cần học từ Silicon Valley, MIT, Stanford, Israel, Hàn Quốc hay Singapore, nhưng không thể nhập khẩu nguyên mẫu văn hóa đổi mới sáng tạo của họ. Việt Nam cần một mô hình phù hợp với bản sắc riêng: giàu tính cộng đồng, có năng lực tiếp biến, coi trọng giáo dục, có khát vọng vươn lên, đồng thời phải vượt qua tâm lý bằng cấp, ngại phản biện, ngại rủi ro và quản trị hành chính nặng nề.

Nói ngắn gọn, Việt Nam không chỉ cần thêm nguồn lực cho đổi mới sáng tạo. Việt Nam cần một hệ sinh thái văn hóa trong đó con người được khuyến khích sáng tạo, nhà trường nuôi dưỡng sáng tạo, đại học tổ chức sáng tạo, doanh nghiệp khai thác sáng tạo, nhà nước bảo vệ sáng tạo và xã hội tôn vinh sáng tạo một cách có trách nhiệm.

Chuyển từ thích nghi sang tạo ra sự thay đổi

Để phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần một cuộc chuyển hóa sâu rộng trong giáo dục, đại học, doanh nghiệp, quản trị công và hệ giá trị xã hội. Đây không chỉ là việc triển khai thêm chương trình, đề án hay trung tâm mới, mà còn là việc thay đổi cách con người học tập, làm việc, hợp tác và tạo ra giá trị.

Trước hết, cần chuyển từ học thuộc sang học để đặt câu hỏi. Nhà trường phải giúp người học biết cách phát hiện vấn đề, đặt giả thuyết, kiểm chứng bằng dữ liệu, tranh luận bằng lý lẽ và đề xuất giải pháp. Mục tiêu không phải là biến mọi người thành nhà phát minh, mà là hình thành thói quen trí tuệ của người sáng tạo: không dễ chấp nhận cái có sẵn, không sợ câu hỏi khó và không ngại tìm cách làm mới.

Thứ hai, cần chuyển từ việc chuộng bằng cấp sang trọng năng lực tạo ra giá trị. Bằng cấp vẫn cần thiết, nhưng không thể là thước đo duy nhất. Trong thời đại đổi mới sáng tạo, năng lực thực tế, sản phẩm đã làm, vấn đề đã giải quyết, dự án đã tham gia, công nghệ đã phát triển và giá trị đã tạo ra cần được coi trọng hơn.

Thứ ba, cần chuyển từ ngại thất bại sang biết học từ thất bại. Không một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nào có thể phát triển nếu mọi thất bại đều bị xem là lỗi cần phải bị xử phạt. Cần phân biệt thất bại trung thực trong thử nghiệm với sai phạm do cẩu thả, gian dối hoặc trục lợi. Văn hóa đổi mới sáng tạo phải bảo vệ những người dám làm đúng, dám chịu trách nhiệm và dám sửa sai.

Thứ tư, cần chuyển từ đại học đào tạo nhân lực sang đại học kiến tạo tri thức, công nghệ, doanh nghiệp và chính sách. Đại học trong kỷ nguyên mới phải là hạ tầng tri thức quốc gia, không chỉ cung cấp lao động có bằng cấp, mà còn tạo ra nhân lực chiến lược, công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ, năng lực tư vấn chính sách và các mô hình phát triển mới.

Thứ năm, cần chuyển từ liên kết hình thức sang hệ sinh thái đồng kiến tạo. Nhà nước, đại học, doanh nghiệp và xã hội không thể đứng riêng rẽ. Nhà nước tạo thể chế và đặt hàng các bài toán lớn; đại học tạo tri thức, nhân lực và công nghệ; doanh nghiệp đưa tri thức vào thị trường; xã hội cung cấp vấn đề, giám sát tác động và thụ hưởng thành quả.

Cuối cùng, cần chuyển đổi đổi mới sáng tạo từ phong trào sang khí chất quốc gia. Đó phải là một môi trường trong đó học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, giảng viên được bảo vệ tự do học thuật, doanh nghiệp được thúc đẩy đầu tư cho R&D, cán bộ công quyền được tạo điều kiện thử nghiệm chính sách, và người dám làm điều mới được xã hội tôn trọng.

Việt Nam đã từng thành công nhờ năng lực tiếp biến, thích nghi và tinh thần đoàn kết. Nhưng trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, kinh tế tri thức và cạnh tranh công nghệ toàn cầu, thích nghi chưa đủ. Quốc gia muốn vươn lên phải chuyển từ thích nghi với thay đổi sang tạo ra thay đổi; từ tiếp nhận công nghệ sang kiến tạo công nghệ; từ học để vượt qua kỳ thi sang học để giải quyết các vấn đề của quốc gia và nhân loại.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/thach-thuc-trong-xay-dung-van-hoa-doi-moi-sang-tao-o-viet-nam-post965349.html