Thách thức vùng châu thổ: Kỳ 1: Khi dòng phù sa không còn nặng cá

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang phải đối mặt với những biến động gay gắt của biến đổi khí hậu, làm thay đổi toàn bộ quy luật tự nhiên vốn có của vùng đất này.

Những mùa lũ lớn dạt dào phù sa nay dần thay thế bằng lũ nhỏ hoặc lũ không về, khiến đồng ruộng thiếu hụt nguồn thủy sản tự nhiên và dưỡng chất bổ sung cho đất. Trong khi đó, tại các đô thị sầm uất, hạ tầng thoát nước chưa kịp thích ứng và thuỷ triều dâng cao đã biến nhiều tuyến đường thành sông. Nghiêm trọng hơn là tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ngày càng khốc liệt trong mùa khô, đẩy hàng chục ngàn hộ dân vào cảnh thiếu nước sinh hoạt, vườn tược bị thiệt hại nặng nề.

Khi cái nắng oi nồng cuối hạ nhường chỗ cho những cơn mưa dầm đầu thu, con kênh lịch sử Vĩnh Tế nối liền Châu Đốc với Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) lại chuyển mình đón bước chân của mùa nước nổi. Dòng nước ngầu đục phù sa tràn qua bờ đê, biến những cánh đồng mông quạnh thành một vùng sông nước mênh mông, mang theo nguồn lộc trời. Thế nhưng, những tay dớn trống trơn, những chuyến xuồng về tay trắng giữa mùa nước nổi cũng không còn xa lạ. Giữa muôn vàn trăn trở của cuộc mưu sinh theo mùa nước nổi, người dân vùng châu thổ cùng chính quyền địa phương đang nỗ lực tìm hướng đi: “trả lại cho sông”, “cho đồng” những mùa cá tôm.

Xuồng, ghe đánh bắt cá neo đậu trên kênh Vĩnh Tế.

Xuồng, ghe đánh bắt cá neo đậu trên kênh Vĩnh Tế.

RỘN RÀNG NHỊP SỐNG ĐẦU NGUỒN

Từ sáng sớm mờ sương, mặt kênh Vĩnh Tế đã xao động bởi tiếng lạch bạch của động cơ đuôi tôm. Những chiếc vỏ lãi thon dài xé sóng, rẽ lối lục bình xanh mướt hướng ra cánh đồng ngập nước đối diện với nước bạn. Trên các bến sông hay ven các bờ đê, từng hàng cọc tre, gỗ cắm dày đặc, phơi dài những cuộn lưới, chiếc dớn và lợp bẫy cá. Khung cảnh mùa đánh bắt hiện lên vừa mộc mạc vừa sinh động.

Ngay khi nước bắt đầu tràn bờ, ông Bảy Hiền (ngụ phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang) đã tất bật đo đạc dòng chảy để cắm cọc, thả dớn. Những luồng dớn dài hun hút đón dòng nước chảy cuồn cuộn từ thượng nguồn rẽ vào nội đồng. Không khí đánh bắt sôi nổi nhất là khi mặt trời bắt đầu lên cao. Khi những mẻ lưới hay dàn dớn được kéo lên từ lòng nước, màu bạc của vảy cá lấp lánh dưới ánh nắng sớm. Đàn cá linh non bé tẹo cỡ ngón tay út nhảy lao xao trong lòng xuồng.

Bên cạnh cá linh là những mớ cá chốt béo ngậy, cá chạch và những giỏ cua đồng còn bò lổm ngổm. Hỏi thăm, ông Bảy Hiền chia sẻ: “Khoảng tháng 7 âm lịch, khi cánh đồng biên giới này bắt đầu ngập trắng nước, cũng là lúc người dân nơi đây rộn ràng bước vào mùa đánh bắt cá tôm, nhưng chủ yếu là cá linh non. Nhờ sản vật này mà phần nào giúp người dân có khoản thu nhập để trang trải sinh hoạt, lo cho con cái đến trường”.

Người dân đổ dớn cá linh.

Người dân đổ dớn cá linh.

Giữa không gian bao la của vùng đất Tứ giác Long Xuyên, nhịp đập mưu sinh bên dòng Vĩnh Tế không chỉ là câu chuyện mưu sinh thường nhật, mà còn là nét văn hóa đặc sắc đậm chất phóng khoáng, tình nghĩa của con người vùng biên viễn.

Rời Vĩnh Tế, chúng tôi về vùng biên giới đầu nguồn An Phú khi cái nắng trưa rọi thẳng xuống những cánh đồng xả lũ chập trùng. Khác với cảnh tấp nập thuyền ghe, tiếng cười nói vang rộn góc trời của chục năm về trước, không gian mùa nước nổi bây giờ yên tĩnh đến chạnh lòng.

Ông Đẩu cùng vợ đổ dớn, nhưng lượng cá linh thu được rất ít.

Ông Đẩu cùng vợ đổ dớn, nhưng lượng cá linh thu được rất ít.

Gắn bó với nghề đặt dớn cá linh ngót nghét 30 năm, ông Đoàn Văn Đẩu (ngụ ấp Phú Lợi, xã Phú Hữu) ngồi gỡ từng mắt lưới dính toàn rác và vài con cá chốt nhỏ xíu bằng ngón tay út. Gương mặt sạm nắng, chằng chịt nếp nhăn của lão nông dường như trút xuống theo từng hơi thở dài. “Mấy năm trước, tầm tháng 8 âm lịch, nước dâng ngập bờ đê. Dỡ một tay dớn thôi là cá linh nhảy trắng khoang xuồng, đổ không kịp nghỉ. Còn giờ, thức từ 1 giờ sáng chạy xuồng thăm cả chục cái dớn mà gom lại chưa đầy 10kg cá hỗn tạp. Tiền xăng dầu đi lại có khi còn hụt vào tiền bán cá” - ông Đẩu chua chát nói.

Không riêng gì ông Đẩu, dọc theo dãy kênh Vĩnh Tế hay các cánh đồng giáp ranh biên giới Campuchia, hình ảnh những ngôi nhà sàn trôi nổi cô đơn giữa biển nước nay kèm theo sự ảm đạm. Con nước ròng nước lớn vẫn chảy, nhưng nguồn “lộc trời” thì cứ hao hót dần qua từng năm. Lý giải cho sự suy giảm kiệt quệ này, những ngư dân lão luyện đều có chung nhận định: Sự biến đổi khí hậu khiến con nước nổi ngày càng bất thường, lúc đến muộn lúc lại rút nhanh. Bên cạnh đó, việc xây dựng các thủy điện ở thượng nguồn Mê Kông làm chặn dòng chảy tự nhiên và lượng phù sa, kéo theo sự sụt giảm nghiêm trọng các loài cá di cư như: cá linh, cá leo, cá lóc, cá mè vinh…

Đáng buồn hơn, một phần nguyên nhân lại đến từ chính con người. Cạn kiệt nguồn lợi, người ta lại càng càn quét. Những chiếc ghe cào điện, lưới mắt nhỏ, kích điện xuất hiện tràn lan. Cá lớn bị bắt, cá bé mới bằng đầu đũa cũng không đường thoát. Thủy sản tự nhiên vắng bóng kéo theo sự đứt gãy của hàng loạt ngành nghề ăn theo mùa nước nổi. Nếu như trước đây, các cơ sở sơ ngư cụ, chế cá linh, làm mắm, chế biến cá khô tại chỗ luôn khẩn trương từ sáng đến đêm muộn thì nay hoạt động chập chờn theo kiểu “có tới đâu làm tới đó”.

Tại một cơ sở sơ chế ở xã Phú Hữu, chị Dương Thuý Vi ngậm ngùi bên vài thau cá: “Mấy năm trước, mỗi ngày lò nhà tôi thu mua 400 – 500kg cá linh tươi để móc ruột, chiên bột đóng gói gửi đi TP.HCM, Bình Dương. Mùa này công nhân đến làm rải rác, cá ít nên giá thu mua đẩy lên cao mà làm xong cũng chẳng có đủ hàng giao cho mối lái. Thu nhập người lao động theo đó sụt giảm phân nửa”.

Những phụ nữ sơ chế cá linh ở xã đầu nguồn Phú Hữu (An Giang).

Những phụ nữ sơ chế cá linh ở xã đầu nguồn Phú Hữu (An Giang).

Nhiều hộ gia đình không đất sản xuất, vốn chỉ trông chờ vào 2 - 3 tháng mùa nước nổi để tích lũy tiền chi tiêu cho mùa khô, nay rơi vào bế tắc. Không còn cá để đánh bắt, đàn ông trẻ khỏe kéo nhau lên các khu công nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân. Mùa nước nổi ở lại chỉ còn người già và trẻ nhỏ bên những chiếc xuồng ba lá nằm khô đáy trên bờ. 

Người dân thu hoạch cua đồng rồi đem đến cân cho thương lái.

Người dân thu hoạch cua đồng rồi đem đến cân cho thương lái.

Hàng chục năm qua sống tại sông Cỏ Lau, ông Huỳnh Minh Đằng (59 tuổi) trải lòng: “Xưa tới mùa nước là xóm xóm rủ nhau đi kéo vó, làm chuột, đặt dớn ngày đêm vui như hội. Nay cá ít, người trẻ bỏ đi làm thuê hết. Con sông quê đằm thắm ngày nào giờ vắng bóng người mưu sinh, nghĩ mà tiếc cái không khí thắm thiết ngày cũ”.

Người dân vùng biên dỡ chà bắt chuột kiếm thêm thu nhập mùa nước nổi.

Người dân vùng biên dỡ chà bắt chuột kiếm thêm thu nhập mùa nước nổi.

HÀNH TRÌNH TÁI TẠO NGUỒN LỢI THUỶ SẢN

Trước thực trạng nguy cấp của nguồn lợi thủy sản, các địa phương vùng ĐBSCL, như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ đã không thể tiếp tục đứng nhìn. Một chiến lược tổng thể về bảo tồn, cấm đánh bắt tận diệt và đặc biệt là hoạt động thả cá tái tạo nguồn lợi thuỷ sản đã được triển khai quyết liệt.

Các tỉnh vùng đầu nguồn đã ban hành quy định cấm đánh bắt thủy sản bằng các phương tiện tận diệt, đồng thời khoanh vùng các khu vực bảo tồn thủy sản tự nhiên trong mùa cá đẻ (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm). Sự tuần tra của lực lượng chức năng đã phần nào hạn chế tình trạng đánh bắt bằng kích điện, dớn có kích thước mắt lưới nhỏ. Không chỉ dừng lại ở việc “cấm”, việc “bù đắp” lại cho thiên nhiên được thực hiện quy mô qua từng năm. Vào dịp Lễ Vu Lan hoặc Ngày Truyền thống ngành Thủy sản, hàng triệu con giống các loài cá quý hiếm và cá kinh tế đắt giá đã được thả về dòng Mê Kông.

Những con cá bố mẹ được thả lại sông để tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.

Những con cá bố mẹ được thả lại sông để tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.

Ông Nguyễn Văn Ngợi (ngụ ấp Phú Lợi, xã Phú Hữu), người từng tham gia Tổ tự quản bảo vệ nguồn lợi thủy sản chia sẻ: “Ban đầu vận động bà con không đánh bắt cá con khó lắm. Người ta bảo sông của chung, mình không bắt thì người khác bắt. Nhưng qua mấy đợt thả cá giống, kết hợp giải thích lợi ích lâu dài, bà con dần hiểu ra. Cá giống thả xuống, lớn lên đẻ trứng thì chính con cháu mình sau này được hưởng chứ ai đâu”.

Nhờ những chính sách đồng bộ và quyết liệt, ở một số khu vực bảo tồn nghiêm ngặt tại An Phú, Tân Châu, Hồng Ngự…, những tín hiệu tích cực đầu tiên đã xuất hiện. Chú Năm Đằng hào hứng kể: “Năm nay nhờ chính sách bảo vệ nguồn lợi thủy sản làm gắt từ đầu năm, lượng cá bống, cá leo và cá linh đẻ ở các khu vực lòng sông sâu vè lại khá nhiều. Tuy chưa thể bằng ngày xưa, nhưng so với 2 - 3 năm trước là đã thấy cá xuất hiện trở lại rõ rệt”.

Nhịp sống mùa nước nổi ở miền Tây

Nhịp sống mùa nước nổi ở miền Tây

Để chuyển từ “khai thác cạn kiệt” sang “khai thác bền vững”, các địa phương đang chủ động giúp người dân chuyển đổi mô hình mưu sinh. Cụ thể là hướng dẫn ngư dân chuyển từ đánh bắt tự nhiên sang nuôi cá bè, nuôi cá trong ruộng lúa (mô hình lúa - cá, lúa - tôm) nhằm giảm áp lực lên sông hồ tự nhiên; phát triển du lịch trải nghiệm mùa nước nổi; xây dựng Tổ cộng đồng tự quản…

Mùa nước nổi không đơn thuần là một hiện tượng thiên nhiên, đó là nhịp thở, là văn hóa và là linh hồn của vùng đất chín rồng. Cá tôm có thể không còn tràn trề như huyền thoại ngày trước, nhưng những nỗ lực tái tạo nguồn lợi thủy sản hôm nay đang thắp lên hy vọng mới.

(Còn tiếp...)

Nguyễn Nhân

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/vu-an/phong-su/ky-1-khi-dong-phu-sa-khong-con-nang-ca_197977.html