Thăng trầm nghề ươm tơ bên dòng sông Chu

Từ một làng nghề nhộn nhịp bên sông Chu, Hồng Đô hôm nay lặng lẽ hơn khi nghề ươm tơ dần mai một. Giữa dòng chảy đổi thay của đời sống kinh tế, vẫn có những người âm thầm giữ nghề như cách níu lại ký ức quê hương.

Gia đình ông Lê Văn Trường là hộ duy nhất vẫn còn giữ nghề ươm tơ ở làng Hồng Đô

Gia đình ông Lê Văn Trường là hộ duy nhất vẫn còn giữ nghề ươm tơ ở làng Hồng Đô

Những người cao tuổi ở làng Hồng Đô vẫn còn nhớ rõ quãng thời gian nghề ươm tơ phát triển rực rỡ. Khi ấy, trong làng, nhà nhà trồng dâu, nuôi tằm. Đến mùa, kén được phơi đầy sân, sáng sớm đã thấy người nhóm bếp nấu kén, tối đến tiếng guồng quay tơ vẫn đều đặn vang trong xóm. Nghề ươm tơ gắn bó chặt chẽ với đời sống người dân, tạo nên nhịp sinh hoạt quen thuộc của cả làng suốt nhiều năm liền.

Theo các cụ cao niên, giai đoạn từ khoảng năm 1995 đến năm 2005 là thời kỳ phát triển mạnh nhất của nghề ươm tơ ở Hồng Đô. Trong làng có hàng chục hộ theo nghề, nhà ít cũng có vài nong kén, nhà nhiều thì quay tơ quanh năm. Dâu được trồng dọc các bãi bồi ven sông, ven ruộng; tằm nuôi theo từng lứa, kén thu đến đâu quay tơ đến đó. Nhờ nghề này, nhiều gia đình có thu nhập ổn định, đủ trang trải cuộc sống và nuôi con ăn học.

Hồng Đô từng được xem là một trong những làng có truyền thống làm nghề lâu đời của xã Thiệu Trung (Thanh Hóa). Người lớn quen tay với nong kén, guồng quay; trẻ con lớn lên trong tiếng nấu tơ, quay sợi. Nghề được truyền từ đời này sang đời khác, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây.

Một thời, hai bên bờ sông Chu là những bãi dâu xanh mướt trải dài, gắn với làng nghề dệt nhiễu Hồng Đô rộn ràng tiếng thoi đưa. Vào thời điểm phát triển nhất, làng nghề có hơn 300 khung dệt nhiễu, với khoảng gần 500 thợ dệt có tay nghề, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động địa phương. Sản phẩm tơ, lụa của Hồng Đô từng được xuất khẩu sang Lào, Trung Quốc, mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân.

Sau nhiều công đoạn, tơ thành phẩm mới được cuốn lại, đóng gói để bán ra thị trường.

Sau nhiều công đoạn, tơ thành phẩm mới được cuốn lại, đóng gói để bán ra thị trường.

Thế nhưng, những năm gần đây, thành phẩm tơ tằm giảm giá nhanh, đầu ra bấp bênh khiến nhiều gia đình buộc phải bỏ nghề. Có những năm, người dân nuôi tằm nhiều, kén đạt chất lượng nhưng giá rẻ, thậm chí không có người mua. Nghề trồng dâu, nuôi tằm vì thế dần mai một. Từ chỗ cả làng cùng làm, rồi chỉ còn vài hộ cầm chừng, đến nay, tiếng guồng quay tơ ở Hồng Đô gần như vắng bóng.

Giữa bức tranh trầm lắng ấy, gia đình ông Lê Văn Trường (sinh năm 1975) là hộ duy nhất còn giữ nghề ươm tơ ở làng Hồng Đô. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm nghề, từ nhỏ ông đã quen với việc nhặt kén, quay tơ, phụ giúp cha mẹ sau mỗi buổi học.

Vợ ông, bà Hoàng Thị Vân, cũng là người cùng làng. Hai vợ chồng đến với nhau không chỉ bằng tình cảm, mà còn bằng sự gắn bó chung với nghề truyền thống của quê hương. Khi nhiều gia đình trong làng lần lượt bỏ nghề, ông bà vẫn cố gắng duy trì, dù biết phía trước là không ít khó khăn.

Hiện nay, làng Hồng Đô không còn trồng dâu, nuôi tằm. Để có nguyên liệu sản xuất, ông Trường phải đi nhập kén từ Sơn La với giá khoảng 250 nghìn đồng mỗi kg. Kén sau khi đưa về được chọn lọc kỹ, cho vào nấu rồi quay thành sợi.

Công việc ươm tơ đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm. Nhiệt độ nước phải được canh chuẩn, tay quay phải đều, nếu không sợi tơ dễ đứt hoặc không đạt chất lượng. Sau nhiều công đoạn, tơ thành phẩm mới được cuộn lại, đóng gói để bán ra thị trường. Theo ông Trường, hiện nay mỗi kg tơ bán được khoảng 1,2 triệu đồng. So với giá kén đầu vào, nghề vẫn có lãi, nhưng công việc rất vất vả, phụ thuộc nhiều vào sức người, trong khi số lượng làm ra không lớn.

Công việc ươm tơ đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm

Công việc ươm tơ đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm

Điều khiến ông Trường trăn trở nhất không phải là thu nhập, mà là tương lai của nghề ươm tơ ở Hồng Đô. Theo ông, để khôi phục làng nghề, cần có quỹ đất trồng dâu, nuôi tằm, tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ. Thế nhưng, đất sản xuất ở địa phương hiện nay gần như không còn hoặc đã được sử dụng cho mục đích khác.

Phần lớn người dân trong làng đi làm công ty, thu nhập tuy không cao nhưng ổn định hàng tháng. So với nghề ươm tơ đòi hỏi nhiều công sức, lại không đều việc, người trẻ khó có thể lựa chọn quay lại với nghề truyền thống. Ngay trong gia đình, việc truyền nghề cho thế hệ sau cũng không dễ dàng khi cuộc sống hiện đại mở ra quá nhiều lựa chọn khác.

Dù vậy, ông Trường vẫn mong muốn nếu có sự quan tâm từ các cấp, ngành, nghề ươm tơ Hồng Đô có thể được duy trì ở quy mô nhỏ, gắn với bảo tồn làng nghề truyền thống. Ít nhất, theo ông, cũng cần lưu giữ được nghề, để con cháu sau này còn biết quê hương mình từng sống cùng dâu tằm, tơ lụa.

Trong căn nhà nhỏ ở làng Hồng Đô, những guồng tơ vẫn đều đặn quay mỗi ngày. Không còn cảnh tấp nập như xưa, nhưng với ông Trường và bà Vân, mỗi mẻ tơ hoàn thành đều mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là sản phẩm để bán, mà còn là cách họ giữ lại ký ức của làng nghề – ngọn lửa nhỏ bé nhưng vẫn đang âm thầm cháy giữa dòng chảy của thời gian.

Nguyễn Thuấn

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/thang-tram-nghe-uom-to-ben-dong-song-chu.htm