Thanh âm giữ hồn dân tộc

Với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 73,5% dân số, Tuyên Quang sở hữu kho tàng văn hóa đặc sắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trong mạch nguồn ấy, nhạc cụ dân tộc chính là 'bảo tàng ký ức' của cộng đồng, kết tinh bản sắc văn hóa, tâm hồn dân tộc, trở thành sợi dây vô hình kết nối quá khứ với hiện tại, để di sản bừng lên sức sống trong dòng chảy đương đại.

Bảo tàng ký ức

Nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, mỗi dân tộc đều có một thanh âm riêng để kể câu chuyện về cội nguồn và lưu giữ ký ức cộng đồng qua nhiều thế hệ. Với người Mông, đó là tiếng Khèn. Tương truyền, từ nỗi đau mất cha mẹ, 6 người con trai đã khóc ròng rã nhiều ngày đêm đến mất cả tiếng nói. Trong sự kiệt quệ, họ đã dùng ống sáo của mình để tiếp tục thổi lên khúc nhạc khóc thương đấng sinh thành. Cảm động trước tấm lòng hiếu nghĩa của những người con, thần linh đã báo mộng, dạy họ kết hợp 6 ống sáo ấy thành một loại nhạc cụ chung, biểu tượng cho sự đồng lòng, đoàn kết của 6 anh em.

Bà Vi Thị Sửu, phường Mỹ Lâm truyền dạy nghệ thuật diễn tấu trống Sành cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa Cao Lan.

Bà Vi Thị Sửu, phường Mỹ Lâm truyền dạy nghệ thuật diễn tấu trống Sành cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa Cao Lan.

Từ huyền thoại ấy, cây Khèn ra đời trở thành thứ “ngôn ngữ” văn hóa đặc biệt gắn bó máu thịt với vòng đời của người Mông. Nghệ nhân Sùng Nhìa Sử, thôn Đoàn Kết, xã Sà Phìn chia sẻ: “Người Mông nghe tiếng khèn từ lúc nằm nôi, kết bạn ở chợ phiên và nhắm mắt xuôi tay cũng trong tiếng khèn đưa lối”. Chính những giá trị độc bản thiêng liêng và sức sống bền bỉ ấy đã đưa nghệ thuật khèn của người Mông trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ở một gam màu khác của bức tranh văn hóa, người Cao Lan qua bao thế hệ vẫn gìn giữ chiếc trống Sành - nhạc cụ độc đáo kết tinh từ đất mẹ. Không giống trống gỗ thông thường, thân trống Sành được chế tác tỉ mỉ từ đất sét nung nguyên khối, thắt eo ở giữa và diễn tấu bằng dùi tre cong hoặc bằng tay tạo nên âm sắc trầm hùng. Chính sự khác biệt ấy đã làm nên sức hấp dẫn riêng của loại nhạc cụ này, trở thành dấu ấn văn hóa độc đáo của người Cao Lan giữa kho tàng âm nhạc dân gian các dân tộc Việt Nam. Bà Vi Thị Sửu, phường Mỹ Lâm cho biết: “Trống Sành vốn là nơi ngự trị của thần linh, giữ vị trí đặc biệt cấu thành không gian thiêng của các nghi lễ cầu mùa, cầu mưa. Tiếng trống không đứng riêng lẻ mà dẫn dắt lời Sình ca, hòa cùng thanh la, chũm chọe và các điệu múa truyền thống, tái hiện sinh động đời sống lao động, tín ngưỡng của cộng đồng”.

Nếu khèn Mông kiêu hùng, trống Sành trầm mặc thì đàn Tính của người Tày lại mang vẻ đẹp dung dị, thẳm sâu. Chiếc đàn mộc mạc có bầu vang làm từ nửa quả bầu khô, cần gỗ thanh thoát và những sợi dây tơ dẻo dai, khi gảy lên hóa thành thanh âm trong trẻo như tiếng suối ngàn, ấm áp như bếp lửa nhà sàn đêm đông. Thế nhưng, đàn Tính chỉ thực sự thăng hoa khi hòa cùng lời Then. Nếu Then là câu chuyện về cội nguồn, khát vọng sống và tình yêu quê hương thì tiếng đàn chính là mạch cảm xúc dẫn dắt câu chuyện ấy. Sự hòa quyện giữa lời ca và tiếng đàn đã tạo nên một không gian diễn xướng độc đáo, góp phần đưa “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”, trong đó có Tuyên Quang được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo đồng chí Nguyễn Trung Ngọc, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Khèn Mông, trống Sành, đàn Tính hay nhiều nhạc cụ truyền thống tuy khác nhau về âm sắc, hình dáng nhưng đều chung một sứ mệnh: Lưu giữ lịch sử, tín ngưỡng, tri thức dân gian và hồn cốt văn hóa của mỗi tộc người.

Hòa vào nhịp sống đương đại

Khi cộng đồng giữ lửa, thế hệ trẻ tiếp bước và công nghệ trở thành cánh tay nối dài của văn hóa, nhạc cụ truyền thống không chỉ còn hiện diện trong ký ức hay lễ hội, mà đang từng ngày hòa vào nhịp sống đương đại nhưng vẫn vẹn nguyên hồn cốt dân tộc.

Nghệ thuật khèn - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, kết tinh bản sắc văn hóa của đồng bào Mông.

Nghệ thuật khèn - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, kết tinh bản sắc văn hóa của đồng bào Mông.

Ở nhiều bản làng, không ít nghệ nhân vẫn lặng thầm gìn giữ mạch nguồn văn hóa. Nghệ nhân Thò Chứ Dia (xã Khâu Vai) đã có gần nửa thế kỷ gắn bó với cây khèn. Trước nguy cơ lớp trẻ ngày càng xa rời nhạc cụ truyền thống, ông mở các lớp truyền dạy miễn phí, trực tiếp hướng dẫn hàng trăm học viên. Từ những em nhỏ chưa biết cầm khèn, nhiều người nay đã trở thành hạt nhân văn nghệ. Còn tại xã Phú Lương, nghệ nhân Sầm Văn Đạo không chỉ truyền dạy và thực hành nghệ thuật dân gian Cao Lan, anh còn là một trong số ít nghệ nhân hiện nay nắm giữ kỹ thuật chế tác trống Sành cổ. Gần 50 chiếc trống do anh tạo tác đã trở thành nhịp cầu lan tỏa âm sắc văn hóa Cao Lan, đưa thanh âm di sản đến với công chúng trong và ngoài nước thông qua các hoạt động văn hóa, du lịch và giao lưu quốc tế.

Từ nền tảng mà thế hệ cha ông dày công vun đắp, lớp trẻ hôm nay đang viết tiếp câu chuyện mới cho nhạc cụ dân tộc. Lớn lên cùng tiếng khèn nơi Cao nguyên đá Đồng Văn, Ly Mí Cường - sinh viên Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã đưa âm nhạc dân tộc bước ra sân khấu quốc tế khi xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi Tìm kiếm tài năng âm nhạc trẻ tại Học viện Âm nhạc Chiết Giang (Trung Quốc) và Quán quân hạng mục Nhạc cụ dân tộc tại Cuộc thi Âm nhạc Quốc tế Trung Quốc - Singapore năm 2024. Không dừng lại ở đó, Cường còn thành lập ban nhạc dân gian đương đại, đưa tiếng khèn Mông hòa quyện cùng âm nhạc điện tử và nhạc trẻ, tạo nên những giai điệu mới mẻ, hấp dẫn giới trẻ nhưng vẫn giữ trọn hồn cốt và bản sắc văn hóa dân tộc.

Ở một hướng đi khác, nghệ sĩ Xuân Hữu, xã Bắc Quang đã chọn không gian số làm nơi lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống. Hơn 15 năm gắn bó với việc truyền dạy hát Then, đàn Tính, anh xây dựng các kênh “Xuân Hữu Đàn Tính” trên YouTube và TikTok, thu hút hơn 70 nghìn lượt theo dõi. Qua những video mộc mạc ghi lại tiếng đàn Tính, lời Then cùng cảnh sắc núi rừng, di sản được kể bằng ngôn ngữ gần gũi, sinh động và hấp dẫn hơn với công chúng trẻ.

Nếu không gian số mở rộng biên độ lan tỏa của di sản thì trường học chính là nơi vun đắp những hạt mầm kế cận. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.053 trường học với 81,56% học sinh dân tộc thiểu số. Từ nền tảng văn hóa giàu bản sắc ấy, ngành Giáo dục đã đẩy mạnh mô hình “Trường học gắn với di sản”, đưa dân ca, dân vũ, dân nhạc vào giảng dạy và hoạt động ngoại khóa; đồng thời mời nghệ nhân trực tiếp truyền dạy kỹ năng diễn tấu, giúp học sinh hiểu và tự hào hơn về văn hóa dân tộc mình.

Từ bản làng đến trường học, từ sân khấu đến không gian số, nhạc cụ dân tộc đang hiện diện ngày càng sâu đậm trong đời sống đương đại. Những sự kiện như Lễ hội Khèn Mông ở Đồng Văn hay các sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với Then, đàn Tính, trống Sành đang từng bước chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế và du lịch. Khi được nuôi dưỡng trong đời sống cộng đồng, những thanh âm ngàn xưa không chỉ lưu giữ ký ức văn hóa mà còn kiến tạo những giá trị mới. Đó cũng là cách bản sắc dân tộc tiếp tục lan tỏa, bền bỉ bồi đắp sức sống để trường tồn cùng thời gian.

Thu Phương

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/van-hoa/tin-tuc/202606/thanh-am-giu-hon-dan-toc-656680a/