Thanh Hóa đưa di sản dân tộc thiểu số vào không gian số
Không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ những cuốn sách cũ hay những bộ trang phục truyền thống trong bảo tàng, Thanh Hóa đang đặt mục tiêu đưa tiếng nói, chữ viết, nghề truyền thống và bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số bước vào không gian số, lớp học và đời sống du lịch.

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu tiếng nói, chữ viết dân tộc trong một lớp học, góp phần gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa truyền thống
Kế hoạch triển khai Đề án "Bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa”, giai đoạn 2026-2030 cho thấy một hướng đi mới: bảo tồn phải gắn với truyền dạy, sinh kế và phát triển bền vững.
Từ bảo tồn sang "đánh thức" những giá trị đang mai một
Thanh Hóa hiện là một trong những địa phương có cộng đồng dân tộc thiểu số đa dạng với 6 dân tộc gồm Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao, Khơ Mú.
Mỗi dân tộc mang trong mình hệ thống tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề thủ công cùng kho tàng tri thức dân gian đặc sắc.
Tuy nhiên, trước tốc độ đô thị hóa, giao thoa văn hóa và sự thay đổi trong đời sống hiện đại, nhiều giá trị truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.
Trên cơ sở Quyết định số 4795/QĐ-UBND về Đề án "Bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2023-2030", UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai giai đoạn 2026-2030 với nhiều nhiệm vụ cụ thể, hướng tới mục tiêu đưa công tác bảo tồn đi vào chiều sâu, đồng thời tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, du lịch vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Điểm nhấn nổi bật của kế hoạch là chuyển mạnh từ tư duy "giữ gìn" sang "phát huy". Không chỉ lưu giữ các giá trị văn hóa trong kho tư liệu, Thanh Hóa hướng tới việc để tiếng nói, chữ viết, trang phục và nghề truyền thống tiếp tục hiện diện trong cộng đồng, trong trường học, trên các nền tảng số và trở thành nguồn lực phát triển.
Một trong những mục tiêu quan trọng được đặt ra là số hóa từ 70-80% tài liệu về tiếng nói, chữ viết, trang phục và nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2026-2030.
Theo kế hoạch, từ năm 2026 đến năm 2028, tỉnh tiếp tục điều tra, sưu tầm và phổ biến các giá trị văn hóa dân gian, hoàn thành 3 báo cáo chuyên đề và thu thập 18 bộ tư liệu phục vụ nghiên cứu, bảo tồn.
Ở lĩnh vực ngôn ngữ, nhiều nhiệm vụ cụ thể được triển khai như số hóa 2 bộ chữ Mường và Thái, số hóa Sổ tay tiếng Mường - Việt Thanh Hóa, Sổ tay tiếng Thái - Việt Thanh Hóa, đồng thời biên soạn 3 bộ tài liệu dạy chữ Mường, Thái và chữ Nôm Dao phục vụ cộng đồng.
Đối với dân tộc Mông, Trường Đại học Hồng Đức sẽ chủ trì biên soạn, xuất bản và số hóa 2 bộ tài liệu hoàn chỉnh về tiếng nói, chữ viết trong năm 2027.
Song song đó, Thanh Hóa còn hoàn thành 3 đầu sách về trang phục, trang sức của đồng bào Mông, Thổ và Khơ Mú; xây dựng 1 bộ cơ sở dữ liệu số về trang phục, nghệ thuật trang trí của cả 6 dân tộc và 1 bộ dữ liệu số về nghề truyền thống.
Không chỉ dừng ở việc số hóa văn bản, tỉnh còn xây dựng hệ thống video hướng dẫn cắt may, dệt, thêu, làm phụ kiện và kỹ thuật tạo hình trang phục truyền thống.

Trình diễn trang phục và nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại một sự kiện văn hóa, góp phần quảng bá và lan tỏa bản sắc các dân tộc trên địa bàn Thanh Hóa
Mỗi địa phương được giao nhiệm vụ sẽ thực hiện ít nhất 4 video cho từng dân tộc, tạo nguồn tư liệu trực quan phục vụ truyền dạy và quảng bá lâu dài.
Việc ứng dụng công nghệ số cũng được xác định là giải pháp then chốt. Các tư liệu sẽ được lưu trữ bằng hình ảnh, video, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, đồng thời quảng bá rộng rãi trên website, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số nhằm đưa di sản tiếp cận đông đảo công chúng, nhất là thế hệ trẻ.
Đưa tiếng dân tộc trở lại lớp học, đưa nghề truyền thống thành sinh kế
Nếu số hóa là cách lưu giữ ký ức thì truyền dạy chính là con đường giúp ký ức ấy tiếp tục sống trong cộng đồng.
Vì vậy, bên cạnh công tác bảo tồn, Thanh Hóa dành nguồn lực lớn để đào tạo đội ngũ nghệ nhân, giáo viên và mở rộng các mô hình truyền dạy.
Trong giai đoạn 2026-2030, mỗi năm tỉnh tổ chức 6 lớp tập huấn, với khoảng 180 học viên, dành cho người có uy tín và nghệ nhân các dân tộc Thái, Mông, Dao, Mường nhằm nâng cao kỹ năng truyền dạy tiếng nói, chữ viết, trang phục và nghề truyền thống.
Đối với cộng đồng dân tộc Mông, mỗi năm tổ chức 1 lớp học, với khoảng 30 học viên. Cùng với đó là các lớp truyền dạy chữ Nôm Dao, chữ Thái và chữ Mường với quy mô 30 học viên/lớp.
Đặc biệt, Trường Đại học Hồng Đức sẽ liên kết đào tạo đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc, phấn đấu đào tạo từ 50 giáo viên trở lên vào năm 2028.
Học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng được đặt ở vị trí trung tâm của công tác bảo tồn. Mỗi năm sẽ có khoảng 500 học sinh tại các trường dân tộc nội trú được giới thiệu, hướng nghiệp nghề thủ công truyền thống; đồng thời duy trì mô hình dạy tiếng dân tộc và mặc trang phục truyền thống trong nhà trường.

Nghề dệt thổ cẩm truyền thống được khuyến khích bảo tồn, phát huy gắn với phát triển du lịch và sinh kế của người dân
Từ năm 2026 đến năm 2030, Thanh Hóa xây dựng 6 mô hình truyền dạy tiếng nói, chữ viết trong cộng đồng; 1 mô hình dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; duy trì 1 mô hình dạy tiếng dân tộc và 1 mô hình mặc trang phục truyền thống tại các trường dân tộc nội trú mỗi năm.
Ở góc độ phát triển kinh tế, kế hoạch cũng cho thấy sự chuyển biến rõ nét khi đưa nghề truyền thống gắn với thị trường.
Thanh Hóa sẽ xây dựng 6 mô hình hợp tác xã, cộng đồng phát triển nghề truyền thống, gồm nghề dệt sợi gai của người Thổ, dệt thổ cẩm người Thái, đan lát của người Khơ Mú, thuốc nam của người Dao, nghề rèn của người Mông và nghề nấu rượu cần của người Mường.
Riêng tại Pù Luông, tỉnh đặt mục tiêu xây dựng 2 sản phẩm du lịch nghề truyền thống được cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, gồm nghề nấu rượu cần và nghề dệt thổ cẩm của người Thái.
Song hành với đó là việc xây dựng 5-10 điểm giới thiệu sản phẩm nghề truyền thống tại các khu du lịch; tổ chức 3-5 sự kiện xúc tiến thương mại mỗi năm để tìm kiếm thị trường tiêu thụ, giúp sản phẩm của đồng bào thực sự trở thành hàng hóa có giá trị.
Các hoạt động quảng bá cũng được triển khai thường xuyên thông qua liên hoan, hội diễn, triển lãm ảnh và chương trình văn hóa.
Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh tổ chức 3 kỳ liên hoan văn hóa dân gian bằng tiếng dân tộc, 3 kỳ liên hoan trang phục truyền thống, 1 triển lãm ảnh về trang phục và nghề truyền thống vào năm 2030; đồng thời thực hiện 80-100 sản phẩm truyền thông mỗi năm nhằm lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc thiểu số.
Theo kế hoạch, toàn bộ các nhiệm vụ sẽ được triển khai theo lộ trình, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên những giá trị văn hóa có nguy cơ mai một và các địa bàn có điều kiện duy trì lâu dài.
Đồng thời, tỉnh xác định đồng bào dân tộc thiểu số là chủ thể của công tác bảo tồn, gắn việc gìn giữ tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng, phát triển sản phẩm nghề truyền thống và mở rộng thị trường tiêu thụ. Qua đó, tạo động lực để các giá trị văn hóa tiếp tục được bảo tồn, phát huy trong đời sống hiện đại.












