Tháo gỡ điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ
Vật tư đầu vào đạt chuẩn có vai trò quan trọng đối với chất lượng nông sản hữu cơ, song nguồn cung, giá thành và khả năng kiểm soát chất lượng vẫn là những thách thức đối với người sản xuất. Tháo gỡ các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và nông dân nhằm xây dựng chuỗi cung ứng vật tư minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.

Các đại biểu tham dự hội thảo “Vật tư đầu vào cho sản xuất hữu cơ – Thực trạng, nhu cầu và giải pháp thúc đẩy sử dụng phân bón hữu cơ”, diễn ra ngày 17/10 tại TP.HCM. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Ngày 17/10, tại TP.HCM, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) phối hợp với Naturland – Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Đức tổ chức hội thảo “Vật tư đầu vào cho sản xuất hữu cơ – Thực trạng, nhu cầu và giải pháp thúc đẩy sử dụng phân bón hữu cơ”.
Tham dự hội thảo có TS. Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch VOAA; bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ VOAA, nguyên Trưởng ban Điều phối PGS Việt Nam; ông Nguyễn Văn Út, Phó trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM; ông Phạm Văn Bông, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương; ông Lê Thanh Vượng, Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương; ông Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành VOAA, Giám đốc Công ty Cổ phần Hasa Bio Foods Việt Nam; ông Lê Quốc Điền, Ủy viên Ban Chấp hành VOAA; bà Lê Thị Thanh Hương, Chánh văn phòng VOAA; bà Đặng Thị Thúy, đại diện Naturland, cùng đại diện các cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.
Hội thảo tập trung trao đổi về thực trạng cung ứng vật tư, yêu cầu chất lượng, giá thành, nguồn nguyên liệu và khả năng tiếp cận sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ. Đây là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, lựa chọn vật tư của nông dân cũng như khả năng duy trì các mô hình canh tác hữu cơ.

TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), phát biểu tại hội thảo về vật tư đầu vào cho sản xuất hữu cơ. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Làm rõ tiêu chuẩn vật tư đầu vào
Phát biểu khai mạc, TS. Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch VOAA, cho biết sau hơn 15 năm phát triển, hiệp hội hiện có gần 2.000 hội viên. Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp cung ứng vật tư, hợp tác xã và người sản xuất, qua đó nhận diện những khó khăn về chất lượng, giá thành, nguồn cung và khả năng tiếp cận vật tư phù hợp với yêu cầu sản xuất hữu cơ.
Trình bày về tiêu chuẩn đầu vào trong sản xuất hữu cơ, bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ VOAA, nguyên Trưởng ban Điều phối PGS Việt Nam, cho biết bộ Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA được phát triển trên nền tảng PGS Việt Nam, đồng thời tham chiếu các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Được công bố năm 2024 và IFOAM công nhận vào tháng 5/2025, bộ tiêu chuẩn mở rộng phạm vi áp dụng, trong đó bổ sung hướng dẫn đánh giá vật tư đầu vào.
Theo bà Nhung, việc đánh giá vật tư đầu vào không thể chỉ căn cứ vào tên gọi hay việc sản phẩm đã được phép lưu hành trên thị trường. Các yếu tố cần xem xét gồm thành phần, nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, khả năng truy xuất nguồn gốc và mức độ phù hợp với tiêu chuẩn hữu cơ được áp dụng.

Bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ VOAA, nguyên Trưởng ban Điều phối PGS Việt Nam, chia sẻ về các tiêu chuẩn và yêu cầu đối với vật tư đầu vào trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Đối với phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh, người sản xuất cần xem xét cụ thể thành phần, nguồn gốc và yêu cầu của tiêu chuẩn tương ứng, thay vì chỉ dựa vào tên gọi thương mại. Điều này đặc biệt quan trọng khi thị trường có nhiều chủng loại vật tư với thông tin giới thiệu khác nhau, trong khi yêu cầu sử dụng trong sản xuất hữu cơ cần được đánh giá trên cơ sở tiêu chuẩn cụ thể.
Bà Nhung cũng lưu ý cần phân biệt rõ sản phẩm đã được chứng nhận hữu cơ, sản phẩm đang trong giai đoạn chuyển đổi và sản phẩm canh tác theo hướng hữu cơ. Việc sử dụng các khái niệm này cần chính xác, tránh gây nhầm lẫn về quy trình sản xuất và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn, đồng thời giúp người sản xuất và thị trường hiểu đúng giá trị của sản phẩm.

Ông Nguyễn Văn Út, Phó trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, phát biểu tại hội thảo về thực trạng và định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố. Ảnh: Nguyễn Sơn.
TP.HCM đẩy mạnh phát triển các mô hình hữu cơ
Thông tin về tình hình sản xuất và kế hoạch phát triển nông nghiệp hữu cơ tại TP.HCM, ông Nguyễn Văn Út, Phó trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, cho biết trong 9 tháng đầu năm 2026, thành phố có 1.092,11 ha trồng trọt áp dụng theo hướng hữu cơ. Trong đó, 24 cơ sở được chứng nhận sản phẩm hữu cơ với tổng diện tích 249,01 ha.
Các sản phẩm gồm rau, sen, nấm, bưởi, dừa, hồ tiêu, ca cao và một số cây trồng khác. Để đánh giá điều kiện sản xuất, ngành nông nghiệp thành phố đã khảo sát các vùng trồng tại xã Châu Pha và xã Phước Hải, lấy mẫu đất, nước để phân tích, đánh giá chất lượng. Thành phố cũng tổ chức tập huấn về quy định, điều kiện sản xuất trồng trọt hữu cơ và tham quan, học tập kinh nghiệm từ các mô hình thực tế.
Kế hoạch phát triển nông nghiệp hữu cơ của thành phố tập trung nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân về sản xuất và giá trị sản phẩm hữu cơ; xây dựng các mô hình, quy trình sản xuất phù hợp; từng bước hình thành và phát triển vùng trồng trọt hữu cơ gắn với bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, du lịch và dịch vụ.
Trong ba tháng cuối năm 2026, thành phố dự kiến tiếp tục tổ chức tập huấn pháp luật, tham quan mô hình sản xuất hữu cơ tại An Giang, đồng thời triển khai mô hình lúa theo hướng hữu cơ trên diện tích 2 ha tại Hợp tác xã An Nhứt, xã Long Điền. Ngành nông nghiệp cũng sẽ tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch năm 2026 và xây dựng kế hoạch cho năm 2027.

Ông Phạm Văn Bông, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, chia sẻ về vai trò của phân bón hữu cơ trong cải thiện chất lượng đất và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Chi phí và nguồn nguyên liệu là những trở ngại lớn
Chia sẻ tại hội thảo, ông Phạm Văn Bông, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, nhấn mạnh vai trò của phân bón hữu cơ trong cải thiện chất lượng đất, hỗ trợ hệ vi sinh vật có lợi và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Bông, phát triển nông nghiệp hữu cơ là quá trình lâu dài, cần sự phối hợp giữa chính sách hỗ trợ, hướng dẫn kỹ thuật và liên kết thị trường. Tận dụng nguồn phụ phẩm tại địa phương có thể góp phần giảm chi phí sản xuất phân bón hữu cơ, nhưng cần đi cùng quy trình xử lý phù hợp và kiểm soát chất lượng.
Ông đề xuất khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ, tăng cường tập huấn kỹ thuật và đánh giá hiệu quả thực tế về chi phí, năng suất, chất lượng, lợi nhuận. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ người sản xuất tiếp cận nguồn vốn, phân biệt rõ sản phẩm được chứng nhận hữu cơ với sản phẩm canh tác theo hướng hữu cơ, xây dựng cơ sở dữ liệu và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách hỗ trợ hiện có.

Ông Lê Thanh Vượng, Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương, chia sẻ những khó khăn về nguồn nguyên liệu, chi phí sản xuất và yêu cầu kiểm soát chất lượng trong sản xuất phân bón hữu cơ. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Ở góc độ doanh nghiệp sản xuất phân bón, ông Lê Thanh Vượng, Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương, cho biết nguồn nguyên liệu phân tán, quy mô thu gom nhỏ lẻ làm tăng chi phí vận chuyển, phân tích và kiểm soát chất lượng. Trong khi đó, doanh nghiệp phải đầu tư đáng kể cho nhà xưởng, máy móc, nhân lực và quy trình quản lý để đáp ứng các yêu cầu sản xuất, chứng nhận.
Theo ông Vượng, doanh nghiệp còn chịu áp lực cạnh tranh với các sản phẩm giá thấp, trong khi chất lượng trên thị trường chưa đồng đều. Vì vậy, phát triển phân bón hữu cơ không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng doanh nghiệp mà còn cần nguồn nguyên liệu ổn định, quy trình kiểm soát rõ ràng và cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Để tháo gỡ khó khăn, ông Vượng đề xuất tổ chức thu gom phụ phẩm theo chuỗi, xây dựng tiêu chí nguyên liệu rõ ràng, đầu tư công nghệ sơ chế và tăng cường liên kết giữa nhà sản xuất vật tư với các vùng trồng. Chính sách hỗ trợ cũng cần quan tâm đến doanh nghiệp sản xuất vật tư đầu vào, song song với hỗ trợ người trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), Giám đốc Công ty Cổ phần Hasa Bio Foods Việt Nam, chia sẻ về yêu cầu ổn định nguồn vật tư đầu vào và bảo đảm chất lượng trong sản xuất gạo hữu cơ. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Tăng liên kết giữa doanh nghiệp cung ứng và người sản xuất
Từ thực tiễn sản xuất gạo hữu cơ, ông Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành VOAA, Giám đốc Công ty Cổ phần Hasa Bio Foods Việt Nam, cho biết nguồn cung vật tư đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế hiện đa dạng hơn trước. Tuy nhiên, sản xuất quy mô công nghiệp đòi hỏi các giải pháp đầu vào có hiệu quả ổn định, phù hợp với quy trình canh tác và có thể áp dụng trên diện rộng.
Theo ông Hùng, chất lượng nguồn nước và môi trường xung quanh có thể ảnh hưởng đến việc duy trì tiêu chuẩn hữu cơ. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện hồ sơ, chứng từ trong giao dịch và xuất nhập khẩu cũng là vấn đề doanh nghiệp quan tâm.
Ông kiến nghị VOAA tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng nhằm tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, bảo đảm sự phù hợp giữa tiêu chuẩn hữu cơ và yêu cầu quản lý trong hoạt động xuất nhập khẩu.

TS. Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), trao giấy chứng nhận hội viên cho ông Lê Thanh Vượng, Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế Hải Dương. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Các ý kiến tại hội thảo cho thấy, điểm nghẽn vật tư đầu vào cho nông nghiệp hữu cơ không chỉ nằm ở giá thành và nguồn cung mà còn liên quan đến chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc, công nghệ sản xuất và sự liên kết giữa các bên trong chuỗi cung ứng.

Các đại biểu, đại diện doanh nghiệp và các đơn vị tham dự hội thảo “Vật tư đầu vào cho sản xuất hữu cơ – Thực trạng, nhu cầu và giải pháp thúc đẩy sử dụng phân bón hữu cơ” chụp ảnh lưu niệm tại chương trình. Ảnh: Nguyễn Sơn.
Để tháo gỡ những vướng mắc này, cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Trong đó, chuẩn hóa nguồn nguyên liệu, minh bạch thông tin sản phẩm, hướng dẫn sử dụng vật tư phù hợp với tiêu chuẩn và tăng cường kết nối cung – cầu là những giải pháp quan trọng, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng ổn định, tạo nền tảng cho nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững./.
Một số hình ảnh ghi nhận tại hội thảo.









