Thay 'chất' cho bảo hiểm nông nghiệp

Sau hơn 5 năm thực hiện bảo hiểm nông nghiệp, các nhà quản lý đánh giá chính sách vẫn mang nặng tính hỗ trợ an sinh, chưa tạo cú hích để hình thành thị trường chia sẻ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp.

Các mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị được đề xuất ưu tiên hỗ trợ 30% phí bảo hiểm nông nghiệp

Các mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị được đề xuất ưu tiên hỗ trợ 30% phí bảo hiểm nông nghiệp

Đụng khung vì tư duy hỗ trợ an sinh

Sau hơn 5 năm triển khai Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính đánh giá chính sách này đã tạo nền tảng pháp lý ban đầu cho việc hình thành thị trường bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, quy mô thực tế của thị trường này vẫn còn khiêm tốn so với quy mô sản xuất của toàn ngành.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, giai đoạn 2019-2021 thực hiện theo Quyết định 22/2019/ QĐ-TTg, cả nước có khoảng 16.700 hộ và tổ chức tham gia bảo hiểm nông nghiệp với tổng giá trị bảo hiểm khoảng 146,3 tỷ đồng. Tổng phí bảo hiểm đạt 6,87 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 5,72 tỷ đồng.

Trong hơn ba năm gần đây triển khai theo Quyết định 13/2022/QĐ-TTg, cả nước có thêm 3.280 hộ và tổ chức tham gia, với tổng giá trị bảo hiểm khoảng 65 tỷ đồng. Tổng phí bảo hiểm đạt 2,38 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 2,14 tỷ đồng. Nếu đặt các con số này trong tương quan với quy mô sản xuất nông nghiệp cả nước (ước khoảng 8,6 triệu hộ sản xuất) thì mức độ bao phủ của bảo hiểm nông nghiệp còn rất hạn chế. Trong giai đoạn 2019 - 2021, số hộ tham gia chỉ tương đương khoảng 0,2% tổng số hộ sản xuất; trong hơn ba năm gần đây tỷ lệ này thậm chí còn thấp hơn.

Theo ông Phạm Văn Đức, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính, một trong những vướng mắc lớn hiện nay là cơ chế chính sách vẫn mang nặng tính hỗ trợ an sinh. Cơ chế hỗ trợ phí chủ yếu tập trung vào nhóm hộ nghèo và cận nghèo, trong khi các tổ chức sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia còn hạn chế.

Thực tế từ khu vực sản xuất cho thấy sự chênh lệch khá lớn về mức hỗ trợ phí giữa các nhóm tham gia. Đại diện một số hợp tác xã tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho biết, hộ nghèo có thể được hỗ trợ tới 90% phí bảo hiểm, trong khi các tổ chức sản xuất như hợp tác xã chỉ được hỗ trợ khoảng 20%, khiến nhiều đơn vị khó cân đối chi phí để tham gia.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho rằng, chủ yếu các hộ sản xuất nhỏ lẻ tham gia bảo hiểm nông nghiệp khó mở rộng quy mô và chưa thể trở thành công cụ quản trị rủi ro cho sản xuất hàng hóa. “Riêng tại An Giang, diện tích gieo trồng lúa mỗi năm khoảng 600.000 ha với sản lượng trên 4 triệu tấn. Nếu bảo hiểm nông nghiệp được thiết kế gắn với các vùng sản xuất tập trung và chuỗi liên kết ngành hàng, phạm vi triển khai có thể mở rộng đáng kể”, ông Hiệp nói.

Tương tự, ông Nguyễn Hắc Hiển, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt - Chăn nuôi - Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết, địa phương này có hơn 210.000 ha cà phê, lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, bảo hiểm nông nghiệp đối với cây công nghiệp dài ngày vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hạn hán ngày càng gia tăng, nếu chính sách vẫn chủ yếu tập trung vào các hộ sản xuất nhỏ lẻ sẽ khó mở rộng sang các mô hình sản xuất quy mô lớn và các chuỗi liên kết ngành hàng.

Kiến tạo thị trường chia sẻ rủi ro

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực này, thực trạng trên đòi hỏi sửa đổi và bổ sung Nghị định 58/2018/NĐ-CP đang được các cơ quan quản lý và khu vực sản xuất đặc biệt quan tâm.

Trong quá trình góp ý cho dự thảo nghị định mới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất mở rộng phạm vi triển khai bảo hiểm nông nghiệp. Theo đó, cần bổ sung các lĩnh vực tham gia bảo hiểm như rừng trồng, tài sản phục vụ sản xuất nông nghiệp, máy móc thiết bị và cơ sở nuôi trồng thủy sản. Danh mục cây trồng, vật nuôi được bảo hiểm, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực của từng địa phương cũng được đề xuất mở rộng.

Bên cạnh đó, mức hỗ trợ phí bảo hiểm cũng được đề xuất tính toán lại cho phù hợp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm, trong khi các tổ chức sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ khoảng 30%. Mức hỗ trợ này được cho là phù hợp với thông lệ quốc tế khi tại nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hoa Kỳ, chính phủ đang hỗ trợ từ 50-70% phí bảo hiểm nông nghiệp.

Theo ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, nếu không sửa đổi Nghị định 58, chính sách mới cần giải quyết tình trạng sản xuất manh mún, đồng thời tạo cơ chế kết nối nhà nước - doanh nghiệp - nông dân trong chuỗi giá trị. Theo đó, hợp tác xã và doanh nghiệp cần được đưa vào nhóm ưu tiên hỗ trợ để thúc đẩy liên kết sản xuất.

Về lâu dài, ông Thịnh cho rằng cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa thông tin nông nghiệp và tài chính, bao gồm dữ liệu về mã số vùng trồng, vùng nuôi, thiên tai, khí tượng và sản xuất. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá rủi ro và tính toán mức phí phù hợp.

Ở góc độ thị trường, nhiều chuyên gia nhận định các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp hiện vẫn còn khá hạn chế. Trong bối cảnh nông nghiệp công nghệ cao và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển, doanh nghiệp bảo hiểm có thể phát triển các sản phẩm mới như bảo hiểm theo chỉ số thời tiết hoặc dữ liệu viễn thám. Các sản phẩm này cho phép chi trả bồi thường dựa trên những chỉ số tự nhiên như lượng mưa hoặc nhiệt độ, qua đó giảm chi phí giám định và tăng tính minh bạch.

Theo đó, để thúc đẩy hướng đi này, Bộ Tài chính có thể xây dựng khung quy định chung về các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp mới, tạo điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm và các nhà tái bảo hiểm phối hợp thiết kế các sản phẩm phù hợp, góp phần hình thành một thị trường chia sẻ rủi ro hiệu quả cho nông nghiệp Việt Nam.

Thạch Bình

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/thay-chat-cho-bao-hiem-nong-nghiep-178945.html