Thay đổi tư duy canh tác từ phụ phẩm nông nghiệp

Việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ vi sinh giúp nông dân chủ động nguồn phân bón sạch. Từ đó giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí đầu vào và góp phần xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp xanh, hiện đại.

Ông Mai Văn Phu làm chủ kỹ thuật và tự duy trì sản xuất phân bón hữu cơ sinh học. Ảnh: HỮU ANH

Ông Mai Văn Phu làm chủ kỹ thuật và tự duy trì sản xuất phân bón hữu cơ sinh học. Ảnh: HỮU ANH

Mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật bản địa để xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ sinh học do Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng (Sở Khoa học và Công nghệ) triển khai kỳ vọng mở ra một chương mới cho tư duy canh tác của nông dân.

Phân bón từ rác đồng ruộng

Tại vùng rau La Hường (phường Cẩm Lệ), áp lực về rác thải nông nghiệp từng là nỗi lo thường trực. Mỗi ngày, một lượng lớn rác rau và cỏ dại phát sinh sau thu hoạch, nếu không xử lý đúng cách, nguồn phế phụ phẩm này không chỉ phát sinh mùi hôi mà còn là nơi trú ngụ của nhiều loại dịch hại.

Để giải quyết tình trạng này, sự xuất hiện của các chế phẩm vi sinh bản địa trở thành giải pháp hữu hiệu. Theo đó, những thân, lá rau sau thu hoạch không còn bị gom lại để đốt bỏ, thay vào đó, nông dân tận dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh ngay tại vườn. Cách làm này giúp tăng tốc độ phân hủy, tạo ra nguồn phân tơi xốp, giàu dinh dưỡng và sử dụng bón cho chính những luống rau tiếp theo.

Hai năm trước, ông Mai Văn Phu, một hộ sản xuất lâu năm tại vùng rau an toàn La Hường đã bắt đầu tiếp cận mô hình. Khi đó, cán bộ thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng trực tiếp xuống đồng, tổ chức tập huấn và hướng dẫn quy trình xử lý. Từ khâu xử lý nguyên liệu, phối trộn chế phẩm đến theo dõi độ ẩm của đống ủ, tất cả đều được thực hiện theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”.

“Đến nay tôi và bà con đã làm chủ kỹ thuật và tự duy trì sản xuất. Cái lợi lớn nhất là mỗi vụ gia đình tiết kiệm được khoản chi phí đáng kể thay vì phải đi mua phân bón hóa học như trước”, ông Phu phấn khởi chia sẻ.

Theo ông Phu, thực tế quy trình ủ phân không quá phức tạp nhưng đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt. Sau mỗi vụ, lá và rau tươi được thu gom, làm sạch, cắt nhỏ và xử lý với vôi. Tiếp đó, nguyên liệu phối trộn cùng chế phẩm vi sinh, rỉ đường và các dưỡng chất cần thiết.

Tùy điều kiện, người dân có thể bổ sung phân gà hoặc bánh dầu để tăng hàm lượng hữu cơ. Sau khoảng 45 ngày, phế phẩm hoàn toàn phân hủy thành phân hữu cơ vi sinh đạt chất lượng. Với khoảng 10 tấn phân tự sản xuất mỗi vụ, gia đình ông Phu đủ sức bón cho hơn 4.000m2 rau màu.

Phân hữu cơ vi sinh không chỉ nhiều dinh dưỡng mà còn phục hồi hệ vi sinh vật có lợi trong đất. TRONG ẢNH: Nông dân bón phân hữu cơ vi sinh cho cây trồng. Ảnh: HỮU ANH

Phân hữu cơ vi sinh không chỉ nhiều dinh dưỡng mà còn phục hồi hệ vi sinh vật có lợi trong đất. TRONG ẢNH: Nông dân bón phân hữu cơ vi sinh cho cây trồng. Ảnh: HỮU ANH

Tái tạo tài nguyên

Không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế, mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật bản địa để xử lý phụ phẩm nông nghiệp được ví như “lá chắn sinh học” bảo vệ sức khỏe cho đất và cây trồng. Thực tế canh tác cho thấy, sau khi bón phân hữu cơ vi sinh, đất trở nên tơi xốp, giữ ẩm tốt hơn và giúp bộ rễ cây phát triển khỏe mạnh.

Ông Phu phân tích: “Trước đây, khi bón phân gà kết hợp với NPK và đạm urê, cây súp lơ xanh rất hay bị bệnh thối nhũn. Khi chuyển sang dùng phân hữu cơ vi sinh tự ủ, cây khỏe hơn, tỷ lệ bệnh giảm rõ rệt. Các vi sinh vật có lợi trong phân giúp ức chế vi khuẩn gây hại, cây có sức đề kháng tự nhiên nên chúng tôi ít dùng thuốc bảo vệ thực vật hơn”.

Hiệu ứng tích cực này đang lan tỏa mạnh mẽ sang các vùng canh tác rau khác trên địa bàn thành phố. Tại Hợp tác xã Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn Túy Loan (xã Hòa Vang), ông Mai Thanh Quang cũng ứng dụng mô hình từ năm 2025 và mang lại hiệu quả cao.

Theo ông Quang, việc tự sản xuất phân bón tại chỗ giúp giảm đến 80% chi phí mua phân bón. Quan trọng hơn, đất được nuôi dưỡng bền vững, rau bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và chính người sản xuất cũng được bảo vệ khỏi các hóa chất độc hại.

Kỹ sư Nguyễn Thị Ly Na, Phòng Khoa học ứng dụng và Ươm tạo (Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng) cho rằng, tình trạng đốt rơm rạ hay thân lá sau thu hoạch là sự lãng phí nguồn hữu cơ vô cùng quý giá. Việc triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ để biến phế phụ phẩm thành phân bón ngay tại địa phương là lời giải cho mục tiêu nông nghiệp tuần hoàn.

Để mô hình đi vào đời sống, trung tâm vận hành theo phương pháp “làm trước - cùng làm - để dân làm” và những con số thống kê đã minh chứng cho sự lan tỏa của mô hình. Năm 2023, đã có khoảng 34 tấn phụ phẩm được xử lý và tạo ra 13 tấn phân hữu cơ; đến năm 2025, xử lý 21 tấn nguyên liệu, cho ra 8 tấn phân hữu cơ phục vụ sản xuất.

Bà Ly Na nhận định: “Ưu điểm của phân hữu cơ vi sinh không chỉ nằm ở dinh dưỡng mà còn ở khả năng phục hồi hệ vi sinh vật có lợi trong đất. Khi đất “khỏe”, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giảm xuống, chi phí phân bón cũng giảm được khoảng 2/3 so với việc dùng phân hóa học đơn thuần. Và giá trị lớn nhất không nằm ở khối lượng phân tạo ra mà ở sự thay đổi tư duy. Nông dân không còn coi thân lá là rác, mà coi đó là tài nguyên tái tạo”.

HỮU ANH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/thay-doi-tu-duy-canh-tac-tu-phu-pham-nong-nghiep-3348928.html