Thay đổi tư duy để giảm nghèo bền vững

Để đạt mục tiêu quốc gia về nâng cao đời sống, kinh tế - xã hội các xã miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều chuyên gia cho rằng cần thay đổi tư duy và cách làm mới.

Lấy sinh kế người dân làm thước đo

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về nâng cao đời sống, kinh tế các xã miền núi, đồng bào dân tộc thời gian qua đã phát huy hiệu quả rõ nét. Báo cáo từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo, thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số đến cuối năm 2025 ước đạt 45,9 triệu đồng/năm, tăng gần 3,3 lần so với năm 2020. Hạ tầng cơ sở nhiều nơi được đầu tư, nâng cấp hiện đại.

Theo chuyên gia, thước đo quan trọng nhất của việc giảm nghèo bền vững là khả năng tạo việc làm, nâng thu nhập và cải thiện chất lượng sống cho người dân (Ảnh minh họa).

Theo chuyên gia, thước đo quan trọng nhất của việc giảm nghèo bền vững là khả năng tạo việc làm, nâng thu nhập và cải thiện chất lượng sống cho người dân (Ảnh minh họa).

Tuy nhiên, nếu so với thu nhập bình quân đầu người 5,9 triệu đồng/người/tháng (70,8 triệu đồng/người/năm) thì mức thu nhập của người dân đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi chưa cao.

Trao đổi với Báo Xây dựng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan cho rằng, chính sách đã có, song để đi vào thực tiễn, các địa phương cần đổi mới cách làm, lấy sinh kế người dân làm thước đo hiệu quả.

Theo ông Hoan, câu chuyện lớn nhất của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2025-2030 không còn nằm ở việc đầu tư bao nhiêu, mà là đầu tư như thế nào để người dân có thể tự đứng vững trên chính quê hương mình.

Nhiều năm qua, chương trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững đã tạo ra những đổi thay rất lớn. Đường sá rộng hơn, cầu cống khang trang hơn, điện, trường, trạm tốt hơn.

"Nhưng bước vào giai đoạn mới, cần một cách tiếp cận mới. Bởi nếu chỉ dừng lại ở hạ tầng, nông thôn có thể đẹp hơn nhưng chưa chắc người dân đã khá hơn. Một con đường mới có thể giúp đi nhanh hơn, nhưng chưa chắc giúp người nông dân đi xa hơn trong chuỗi giá trị", ông Hoan nói.

Vì vậy, khi nói đến ưu tiên đầu tư cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, điều đầu tiên cần ưu tiên không phải là địa bàn nào nghèo hơn mà là nơi nào có nhiều rào cản nhất.

"Có nơi thiếu đường giao thông. Có nơi thiếu nước sinh hoạt. Có nơi thiếu trường học. Nhưng cũng có nơi cái thiếu lớn nhất là cơ hội thị trường, tri thức, kỹ năng nghề hay niềm tin để khởi nghiệp.

Tiêu chí ưu tiên không nên chỉ đo bằng tỷ lệ hộ nghèo hay mức độ khó khăn hành chính, mà cần nhìn rộng hơn ở khả năng tạo ra động lực phát triển mới", ông Hoan nói và cho rằng, một đồng vốn đầu tư hiệu quả không phải chỉ làm cho địa phương đẹp lên, mà người dân phải có có sinh kế ổn định hơn, thanh niên có việc làm để không rời quê; tài nguyên bản địa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế, cộng đồng đủ năng lực tự vận hành sau khi dự án kết thúc.

Hạ tầng mới chỉ là điều kiện cần

Theo ông Lê Minh Hoan, giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ tư duy đầu tư dàn trải sang đầu tư tạo hạt nhân. Không phải xã nào cũng làm giống nhau, không phải nơi nào cũng ưu tiên giống nhau. Có nơi cần cây cầu bê tông, nhưng cũng có nơi cần "cây cầu số", kết nối thị trường, cầu tri thức và cầu niềm tin.

Một bản làng miền núi có thể không thiếu đất, nhưng thiếu người biết chế biến dược liệu. Một vùng đồng bào dân tộc có thể không thiếu văn hóa, nhưng thiếu người biết biến văn hóa thành du lịch cộng đồng. Một vùng nông thôn có thể không thiếu nông sản, nhưng thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, thiếu hợp tác xã đủ năng lực, thiếu lớp thanh niên quay về khởi nghiệp.

Điều đó cho thấy, hạ tầng là cần thiết, nhưng hạ tầng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ phải là hệ sinh thái tạo sinh kế.

Giai đoạn mới, cần ưu tiên ba lớp đầu tư song song. Lớp thứ nhất là hạ tầng thiết yếu, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn: Giao thông, nước sạch, điện, trường học, y tế, hạ tầng số. Đây vẫn là nền móng không thể thiếu.

Lớp thứ hai quan trọng hơn là đầu tư vào con người. Bởi suy cho cùng, một cộng đồng chỉ thật sự thoát nghèo khi người dân có năng lực tạo ra giá trị mới.

Và lớp thứ ba là đầu tư cho hệ sinh thái kinh tế nông thôn. Không chỉ hỗ trợ hộ dân riêng lẻ, mà phải hình thành hợp tác xã mạnh, doanh nghiệp bản địa, trung tâm chế biến, logistics, du lịch cộng đồng, thương hiệu địa phương, thương mại điện tử, và các mô hình kinh tế đa giá trị.

Chuyển từ "phân bổ vốn" sang "đặt hàng kết quả"

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi chia sẻ, chúng ta không thiếu chủ trương hay nguồn lực đầu tư cho nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, khoảng cách lớn nhất vẫn nằm ở hiệu quả thực thi. Có nơi công trình được xây dựng khá đồng bộ nhưng chưa tạo được sinh kế, thanh niên vẫn rời quê, sản xuất còn manh mún, giá trị gia tăng thấp.

Điều đó cho thấy, thước đo quan trọng nhất của phát triển không phải số vốn giải ngân hay số công trình hoàn thành, mà là khả năng tạo việc làm, nâng thu nhập và cải thiện chất lượng sống thực chất cho người dân.

Giai đoạn 2026-2030 là cơ hội rất lớn để Việt Nam chuyển từ tư duy xây dựng nông thôn mới sang kiến tạo kinh tế nông thôn mới. Nếu làm tốt, đây không chỉ là câu chuyện giảm nghèo hay hạ tầng, mà sẽ là nền tảng để tái cấu trúc phát triển quốc gia theo hướng cân bằng, bền vững và bao trùm hơn.

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi

Vì vậy, giai đoạn 2026-2030 cần chuyển mạnh từ tư duy "phân bổ vốn" sang "đặt hàng kết quả". Ngân sách Nhà nước không chỉ cấp cho hạ tầng, mà phải gắn với đầu ra cụ thể như: Thu nhập bình quân đầu người tăng bao nhiêu; tỷ lệ lao động có việc làm ổn định thế nào; số sản phẩm địa phương tham gia chuỗi giá trị trong nước và xuất khẩu ra thế giới ra sao; chất lượng y tế, giáo dục, môi trường sống và mức độ hài lòng của người dân được cải thiện đến đâu.

Địa phương làm hiệu quả cần được ưu tiên thêm nguồn lực; nơi đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp cần điều chỉnh hoặc điều chuyển vốn để bảo đảm từng đồng ngân sách tạo ra giá trị xã hội thực chất.

Ông Huy đề xuất Nhà nước nghiên cứu, triển khai cơ chế thí điểm lựa chọn một số vùng có tiềm năng nổi bật về nông nghiệp, lâm nghiệp, dược liệu, du lịch sinh thái, làng nghề hay kinh tế biên mậu để tập trung nguồn lực đồng bộ về hạ tầng, logistics, chuyển đổi số, tín dụng, đào tạo nghề và thu hút doanh nghiệp.

Sau một giai đoạn triển khai, cần đánh giá toàn diện hiệu quả. Từ những mô hình thành công, có thể hoàn thiện cơ chế và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

Đức Hùng

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/thay-doi-tu-duy-de-giam-ngheo-ben-vung-192260520121554504.htm