Thay đổi tư duy để kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh bứt phá
Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.
Theo các chuyên gia, nghị quyết không chỉ mở ra cơ chế đặc thù mạnh hơn cho Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn định hình mô hình phát triển mới cho siêu đô thị lớn nhất cả nước, tăng trưởng nhanh nhưng hài hòa, lấy chất lượng sống và hạnh phúc của người dân làm trung tâm.
Cơ chế “đột phá của đột phá”
Tiến sĩ Huỳnh Văn Sinh, Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở (Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, Nghị quyết số 09-NQ/TW ra đời sau hơn ba năm thực hiện Nghị quyết 31-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII, khoảng thời gian đủ để tích lũy bài học thực tiễn lẫn nhận diện điểm nghẽn. Điểm mới căn bản nhất là Nghị quyết số 09-NQ/TW không chỉ đặt mục tiêu mà còn xác định cơ chế để đạt được mục tiêu đó. Lần đầu tiên, Bộ Chính trị chủ trương xây dựng hẳn một Luật Đô thị đặc biệt riêng cho Thành phố Hồ Chí Minh, được gọi là “đột phá của đột phá”, nhằm tạo khung pháp lý vượt trội, phân cấp phân quyền triệt để, cho phép Thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn mà các quy định hiện hành chưa điều chỉnh kịp.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh bên sông Sài Gòn, khu vực bến nhà Rồng. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN
Để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, theo Tiến sĩ Huỳnh Văn Sinh, cần ban hành sớm Luật Đô thị đặc biệt, đây là “chìa khóa” mở ra toàn bộ cơ chế đột phá; nếu chậm trễ, mọi chủ trương khác đều bị vướng rào cản pháp lý. Thành phố cũng phải xây dựng đội ngũ cán bộ đủ tầm và đủ dũng khí, như nghị quyết yêu cầu cán bộ “dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung”; điều đó đòi hỏi phải có cơ chế bảo vệ người năng động sáng tạo và kiên quyết xử lý tình trạng né tránh trách nhiệm. Cùng với đó, phương châm “Thành phố Hồ Chí Minh vì cả nước, cả nước vì Thành phố Hồ Chí Minh” không chỉ là khẩu hiệu mà phải được hiện thực hóa qua cơ chế điều phối vùng thực chất, huy động nguồn lực và chia sẻ lợi ích giữa Thành phố với các tỉnh lân cận trong vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Cùng góc nhìn này, ông Diệp Văn Sơn, nguyên Phó Vụ trưởng, Cơ quan Đại diện Bộ Nội vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá cao nhiệm vụ xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt. Theo ông Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh từ lâu đã đề nghị cơ chế vượt trội để phát triển và nay được cụ thể trong Nghị quyết của Bộ Chính trị. Thành phố là trung tâm chính trị ở phía Nam, đồng thời là trung tâm kinh tế, đầu tàu dẫn dắt Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống các đô thị của nước ta.
Từ trước đến nay, từ Thành phố đã có rất nhiều sáng kiến, đột phá về thể chế, kinh tế, cải cách hành chính và là tiền đề nhân rộng ra cả nước. Những quyết sách này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và chứng minh hiệu quả, nên Thành phố xứng đáng có một Luật Đô thị đặc biệt với tầm nhìn dài hạn. Những đô thị như Thành phố Hồ Chí Minh có những khó khăn, cách quản lý khác với địa phương khác. Nếu giải quyết được các khó khăn cho Thành phố tức là đã mở cách giải quyết cho các đô thị của cả nước.
“Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị vừa ban hành là chính xác, đáp ứng đúng nguyện vọng của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như nhân dân cả nước, bởi Thành phố Hồ Chí Minh phát triển không phải cho riêng Thành phố mà là vì cả nước”, ông Diệp Văn Sơn chia sẻ.

Nút giao An Phú với đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây, phường An Phú, thành phố Thủ Đức. Ảnh: Vũ Sinh - TTXVN
Ông Diệp Văn Sơn cũng nhấn mạnh việc phân cấp và phân quyền cho Thành phố như Nghị quyết 09-NQ/TW nêu là sự “văn minh” trong nền hành chính. Ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều vấn đề phát sinh, nếu việc gì cũng phải báo cáo xin ý kiến và chờ phản hồi sẽ rất chậm trễ, ảnh hưởng đến vấn đề dân sinh, đến sự phát triển của cả nước. Tuy nhiên, việc phân cấp cũng cần có cơ chế giám sát để hiệu quả.
Theo ông Diệp Văn Sơn, Nghị quyết cho phép Thành phố Hồ Chí Minh được chủ động quyết định tổng số lượng biên chế không vượt quá 20% số biên chế được Trung ương giao. Thành phố cần tận dụng điều này để bố trí nhân sự cho phù hợp, bởi ở mỗi cơ sở sẽ có những yêu cầu công việc khác nhau. Bên cạnh được Trung ương phân cấp, phân quyền thì Thành phố cũng phải nghiên cứu phân cấp cho cấp cơ sở và nâng cao trách nhiệm của người thực thi công vụ.
Lấy con người làm trung tâm
Nghị quyết 09-NQ/TW đặt ra nhiều chỉ tiêu quan trọng, trong đó GRDP bình quân đầu người tối thiểu 14.000 USD vào năm 2030, 75.000 USD vào năm 2045 và 100.000 USD vào năm 2075; tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm trong hai thập niên đầu. Giai đoạn 2026 - 2030, Thành phố cơ bản giải quyết tình trạng úng ngập, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và không ma túy.
Theo Tiến sĩ Huỳnh Văn Sinh, các con số trong nghị quyết nói lên hoài bão lớn lao của Trung ương và Thành phố, đồng thời có cơ sở khoa học. Nghị quyết chỉ rõ không thể tiếp tục mô hình tăng trưởng theo chiều rộng mà phải chuyển hẳn sang chiều sâu, dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh. Đây không phải ước vọng trừu tượng, vì nhiều thành phố lớn ở châu Á đều từng đặt và hiện thực hóa những mục tiêu tương tự khi có quyết tâm chính trị đủ mạnh và thể chế đủ linh hoạt. Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn có tiềm lực để làm được, nếu tháo gỡ triệt để những điểm nghẽn về thể chế và hạ tầng.

Tàu chạy trên tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên. Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN
Một trong những điểm Tiến sĩ Huỳnh Văn Sinh đánh giá cao nhất ở nghị quyết lần này là sự nhấn mạnh yếu tố con người và văn hóa, khi khẳng định rõ “lấy sự hài lòng, cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân là thước đo hiệu quả lãnh đạo”. Đây là triết lý phát triển nhân văn, đặt con người làm trung tâm và mục tiêu tối thượng. Chủ trương xây dựng “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” phản ánh nhận thức rằng bản sắc văn hóa không phải gánh nặng của hiện đại hóa mà là lợi thế cạnh tranh đặc thù của Thành phố trên bản đồ đô thị châu Á.
Theo Tiến sĩ Huỳnh Văn Sinh, mục tiêu Chỉ số phát triển con người HDI duy trì tối thiểu 0,9 xuyên suốt các giai đoạn cho thấy cam kết không đánh đổi phúc lợi xã hội để lấy tốc độ tăng trưởng. Chỉ số HDI từ 0,9 trở lên thuộc nhóm “phát triển con người rất cao” theo thang UNDP. Với Thành phố Hồ Chí Minh, mục tiêu này khẳng định tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, phát triển vì con người.
Để xây dựng đô thị đặc biệt phát triển văn minh hiện đại, chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, Tiến sĩ Huỳnh Văn Sinh cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh cần hoàn chỉnh mạng lưới đường sắt đô thị, tái cấu trúc không gian cư trú, kéo giãn dân số về vùng ven theo mô hình TOD (phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng). Thành phố thực hiện di dời nhà ven kênh rạch, cải tạo chung cư cũ với hơn 20.000 căn nhà ven kênh rạch và hàng trăm chung cư xây trước 1975 đang xuống cấp nghiêm trọng. Đây không chỉ là bài toán nhà ở mà là bài toán công bằng đô thị, tái định cư xứng đáng, nâng chất lượng sống cho nhóm dân cư dễ tổn thương nhất.
Thành phố có thể xây dựng đô thị vệ tinh thông minh, bởi nội thành đang gánh mật độ vượt ngưỡng chịu tải; phát triển các đô thị vệ tinh ra khu vực Củ Chi, Cần Giờ, Bình Chánh cũ; khu vực dọc theo Vành đai 3, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, Quốc lộ 55, Quốc lộ 56. Thiết kế theo mô hình thông minh, hạ tầng đồng bộ, sẽ phân tán dân số có kiểm soát, đồng thời tạo không gian kinh tế mới cho vùng đô thị Đông Nam Bộ.
Cùng với đó, Thành phố thực hiện chuyển đổi xanh toàn diện, từ vật liệu xây dựng, năng lượng mặt trời mái nhà đến xử lý nước thải đô thị, là điều kiện tiên quyết để Thành phố đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) theo lộ trình nghị quyết. Thành phố cũng cần số hóa hạ tầng quản trị đô thị nhằm nâng cao hiệu quả điều hành bộ máy hành chính hai cấp và quản lý hiệu quả đô thị hơn 14 triệu dân. Đây cũng là nền tảng dữ liệu để ra quyết định quản trị đô thị chính xác, minh bạch.
Nghị quyết 09-NQ/TW với tầm nhìn đến năm 2075 đang đặt ra một sứ mệnh lịch sử cho Thành phố Hồ Chí Minh, đó là trở thành đô thị toàn cầu, thông minh, phát triển toàn diện. Thành phố đang đứng trước cơ hội định hình một mô hình phát triển mới: không chỉ là đầu tàu kinh tế, mà còn là đô thị đáng sống, nơi người dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển.











