Thấy gì từ dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa?
Theo chuyên gia, việc xây dựng Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa trước hết có ý nghĩa ở chỗ lấp một khoảng trống quan trọng trong hệ thống thể chế phát triển văn hóa.
CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA
Thấy gì từ dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa?
Theo chuyên gia, việc xây dựng Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa trước hết có ý nghĩa ở chỗ lấp một khoảng trống quan trọng trong hệ thống thể chế phát triển văn hóa.
Tâm An

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang phối hợp với các cơ quan ban ngành để xây dựng Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa. Dự thảo 1.0 đang được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi từ ngày 5 đến hết ngày 24/8. Dự thảo gồm 9 chương, 60 điều, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa tập trung vào sáu trụ cột chính gồm: hệ sinh thái sáng tạo, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực, hạ tầng, thị trường và nguồn lực tài chính để phát triển công nghiệp văn hóa.
Điểm mới ở Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa
Trao đổi với Tri Thức - Znews, PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long, Giảng viên Cao cấp ngành Truyền thông Chuyên nghiệp, Đại học RMIT cho biết theo ông, nội dung quan trọng và là điểm mới nhất của Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa là định hướng xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đây là phần định hình triết lý quản trị của toàn bộ đạo luật, đánh dấu sự chuyển dịch đáng chú ý từ tư duy “quản lý từng hoạt động văn hóa” sang tư duy “phát triển một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa”.
Theo chuyên gia, Dự thảo chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ từng lĩnh vực riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ. Trong đó, người sáng tạo, nghệ sĩ, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, cơ sở giáo dục, nhà nghiên cứu, tổ chức nghề nghiệp, quỹ đầu tư, nền tảng công nghệ và thiết chế văn hóa được kết nối trong cùng một chuỗi giá trị: sáng tạo, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, tiêu dùng và tái đầu tư. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và điều phối, thay vì can thiệp hoặc quản lý vi mô từng công đoạn. Đây là thay đổi có tính nền tảng, bởi sản phẩm văn hóa chỉ thật sự tạo ra giá trị bền vững khi các khâu trong chuỗi giá trị được liên kết hiệu quả.



Những concert thu hút hàng vạn khán giả, diễn ra tại TP.HCM, Hà Nội thời gian qua.
Bên cạnh đó, một điểm mới rất đáng chú ý là định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, kết nối dữ liệu từ trung ương đến địa phương, đồng thời hình thành bộ chỉ số đánh giá năng lực sáng tạo, hiệu quả kinh tế, tác động xã hội và mức độ lan tỏa của văn hóa Việt Nam ra quốc tế. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì chính sách văn hóa cần được hoạch định dựa trên số liệu, bằng chứng và đánh giá thực chất, thay vì chủ yếu dựa vào cảm nhận hành chính.
Về trụ cột tài chính, Dự thảo mở rộng hệ thống ưu đãi về thuế, tín dụng, đào tạo, chuyển đổi số, không gian sáng tạo và xúc tiến thị trường cho nhiều nhóm chủ thể: doanh nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp khởi nghiệp, hộ kinh doanh cá thể và các nhóm sáng tạo tự do. Dự thảo cũng định hướng ưu đãi ở mức cao hơn đối với các lĩnh vực, sản phẩm có khả năng tạo giá trị kinh tế, xã hội và quảng bá bản sắc Việt Nam.
Trong bối cảnh tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GDP giai đoạn 2018–2025 mới ước đạt khoảng 4-5%, vẫn còn một khoảng cách đáng kể so với mục tiêu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc thiết kế đồng thời một hệ sinh thái liên kết và cơ chế hỗ trợ đủ rộng để bao phủ cả khu vực phi chính thức là điều kiện cần thiết để thu hẹp khoảng cách này
"Tôi cho rằng đây có thể được khái quát bằng mô hình 'Nhà nước kiến tạo, thị trường vận hành'. Theo đó, cơ quan quản lý không chỉ thực hiện chức năng cấp phép hay phân bổ ngân sách, mà cần xây dựng khung pháp lý, kết nối dữ liệu, tạo điều kiện tiếp cận vốn và mở đường cho thị trường vận hành hiệu quả", PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long cho hay.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ với Tri Thức - Znews, trong các nhóm chính sách cụ thể, ông đặc biệt quan tâm đến tài sản trí tuệ. Dự thảo đã đi khá xa khi đặt vấn đề mã định danh, hồ sơ tài sản trí tuệ, định giá, góp vốn, sử dụng tài sản trí tuệ trong quan hệ tín dụng và xây dựng cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro. Đây có thể là một trong những đột phá quan trọng nhất nếu được thiết kế tốt.
Đặc điểm của nhiều doanh nghiệp sáng tạo là tài sản lớn nhất không phải nhà xưởng hay đất đai mà là kịch bản, nhân vật, thiết kế, phần mềm, thương hiệu, quyền tác giả, quyền khai thác và dòng tiền tương lai. Nếu hệ thống tài chính chỉ nhìn vào tài sản hữu hình thì doanh nghiệp sáng tạo luôn rất khó tiếp cận vốn. Việc biến tài sản trí tuệ từ một khái niệm pháp lý thành một tài sản có thể định giá, giao dịch và huy động nguồn lực sẽ tạo ra một thị trường hoàn toàn mới cho công nghiệp văn hóa.
Ngoài ra, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng đánh giá cao nội dung về cơ chế tài chính và chia sẻ rủi ro, trong đó có đồng đầu tư giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, các quỹ hỗ trợ, ưu đãi đầu tư và các cơ chế thúc đẩy thị trường. Nếu trước đây hỗ trợ văn hóa thường được hiểu là cấp kinh phí để thực hiện một nhiệm vụ, thì tư duy mới là Nhà nước có thể sử dụng nguồn lực công để kích hoạt nguồn lực xã hội, chia sẻ một phần rủi ro ở giai đoạn đầu và thu hồi vốn hoặc lợi ích khi dự án thành công.
"Tôi cũng đánh giá cao các quy định về phát triển thị trường, hạ tầng số, nguồn nhân lực, hỗ trợ chủ thể sáng tạo và đo lường công nghiệp văn hóa. Dự thảo đã nhìn thấy cá nhân sáng tạo, nhóm sáng tạo, hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở đào tạo, quỹ đầu tư và tổ chức nghề nghiệp như những thành tố của cùng một hệ sinh thái. Đồng thời, việc xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thống kê và bộ chỉ số phát triển là rất cần thiết, bởi chúng ta không thể phát triển một ngành kinh tế nếu không đo được quy mô, doanh thu, việc làm, xuất khẩu, tài sản trí tuệ và hiệu quả của từng chính sách", ông nói.
Tác động
Theo chuyên gia, việc xây dựng Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa trước hết có ý nghĩa ở chỗ lấp một khoảng trống quan trọng trong hệ thống thể chế phát triển văn hóa.
Khi được hoàn thiện và ban hành, Luật có thể tạo ra bước chuyển từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển văn hóa. Nhà nước vẫn phải quản lý những vấn đề liên quan đến lợi ích công cộng, an ninh, đạo đức xã hội và bảo vệ di sản. Nhưng trong công nghiệp văn hóa, Nhà nước còn phải làm một việc khác là tạo môi trường để sáng tạo được phát triển, doanh nghiệp được hình thành, tài sản trí tuệ được bảo vệ và thương mại hóa, thị trường được mở rộng và nguồn lực xã hội được huy động. Dự thảo đã thể hiện khá rõ tư duy ấy khi quy định về hệ sinh thái, chuỗi giá trị, tài sản trí tuệ, thị trường, hạ tầng, nhân lực, tài chính và dữ liệu trong cùng một khuôn khổ pháp lý.

Nghệ sĩ tham gia Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào sáng 30/4/2025.
Bên cạnh đó, nếu Luật được thiết kế tốt, sẽ nằm ở việc giải phóng nguồn lực văn hóa rất lớn của đất nước. Việt Nam có lịch sử lâu đời, hệ thống di sản phong phú, nghệ thuật truyền thống đa dạng, làng nghề, ẩm thực, cảnh quan, văn hóa của 54 dân tộc và một thế hệ trẻ có khả năng tiếp cận rất nhanh với công nghệ mới. Nhưng tài nguyên văn hóa tự nó chưa trở thành công nghiệp văn hóa. Muốn chuyển từ tài nguyên sang giá trị kinh tế phải có sáng tạo, công nghệ, sở hữu trí tuệ, vốn, thiết kế, marketing, phân phối và thị trường. Luật có thể tạo hành lang để những yếu tố này kết nối với nhau.
"Tôi cũng kỳ vọng Luật sẽ tác động trực tiếp tới vị thế của người sáng tạo. Khi tài sản trí tuệ được nhìn nhận đúng giá trị, khi người sáng tạo có khả năng tiếp cận tài chính, hạ tầng, dữ liệu, đào tạo, thị trường và các dịch vụ pháp lý tốt hơn, thì nghề sáng tạo mới trở thành một nghề có khả năng tạo ra thu nhập và sự nghiệp bền vững. Một nền công nghiệp văn hóa mạnh không thể hình thành nếu nghệ sĩ, nhà thiết kế, biên kịch, đạo diễn, người làm game hay các chủ thể sáng tạo vẫn là mắt xích yếu trong chuỗi giá trị", PGS.TS Bùi Hoài Sơn trao đổi.
Ở tầm quốc gia, tác động xa hơn là nâng cao sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Một quốc gia được biết đến không chỉ qua GDP hay hàng hóa công nghiệp, mà còn qua câu chuyện, âm nhạc, điện ảnh, thời trang, thiết kế, ẩm thực, trò chơi và những biểu tượng văn hóa của mình. Khi một sản phẩm văn hóa Việt Nam được yêu thích ở nước ngoài, nó không chỉ mang lại doanh thu mà còn tạo thiện cảm, sự quan tâm đối với đất nước, con người và các sản phẩm khác của Việt Nam. Vì vậy, đầu tư cho công nghiệp văn hóa chính là đầu tư đồng thời cho kinh tế, văn hóa và hình ảnh quốc gia.
Thước đo thành công
PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long đánh giá cao tinh thần chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo thể hiện trong Dự thảo, đặc biệt ở nội dung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, theo ông, Dự thảo cần cân nhắc thêm một số vấn đề để Luật có tính khả thi cao hơn.
Trước hết, việc kết nối nhiều chủ thể trong một hệ sinh thái, từ hộ kinh doanh cá thể đến quỹ đầu tư và doanh nghiệp lớn, đòi hỏi cơ chế phân vai, phối hợp và chịu trách nhiệm rất rõ ràng. Nếu không, sẽ dễ dẫn đến tình trạng nhiều chủ thể cùng xuất hiện trong hệ thống nhưng không có đầu mối chịu trách nhiệm cụ thể. Vì vậy, Dự thảo nên bổ sung cơ chế điều phối theo từng lĩnh vực, thay vì để một cơ quan quản lý nhà nước gánh toàn bộ nhiệm vụ điều hành hệ sinh thái.

Bộ phim về đề tài chiến tranh cách mạng - Mưa đỏ - thu về doanh thu hơn 700 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành nghề và tổ chức đại diện cho người sáng tạo. Các tổ chức này có thể tham gia tư vấn chính sách, kết nối các chủ thể trong ngành, phản ánh nhu cầu của hội viên, hỗ trợ chuyên môn và góp phần nâng cao năng lực tự quản của cộng đồng sáng tạo.
Thứ hai, Dự thảo cần làm rõ hơn cơ chế bảo vệ và khai thác quyền lợi của người sáng tạo, đặc biệt là tác giả, nghệ sĩ độc lập, nhóm sáng tạo nhỏ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là các chủ thể chiếm số đông trong thực tế vận hành của ngành, nhưng thường có ít tiếng nói trong quá trình xây dựng chính sách. Họ thường không có bộ phận pháp chế, hạn chế về năng lực đàm phán hợp đồng và khó theo đuổi các thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ kéo dài.
Nếu chính sách chỉ dừng ở việc tạo một khung pháp lý chung mà chưa tính đầy đủ đến chênh lệch về năng lực giữa các chủ thể, lợi ích thực chất từ Luật có thể nghiêng về các doanh nghiệp lớn vốn đã có sẵn nguồn lực pháp lý, tài chính và công nghệ để tận dụng cơ chế mới. Trong khi đó, nhóm sáng tạo nhỏ lẻ vẫn có nguy cơ đứng ngoài cuộc, dù trên danh nghĩa họ cũng là đối tượng thụ hưởng.
Thứ ba, cần đầu tư bài bản cho dữ liệu và bộ tiêu chí đánh giá tác động chính sách. Hệ thống thống kê cần phản ánh đủ các chỉ số về doanh thu, lao động, xuất khẩu, đóng góp GDP, mức độ thụ hưởng văn hóa và tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ. Đây là nền tảng để việc hỗ trợ hoặc ưu đãi có căn cứ rõ ràng, thay vì dựa trên cảm tính hoặc báo cáo mang tính hình thức. Nếu không có dữ liệu đáng tin cậy, việc xác định lĩnh vực trọng điểm, nhận diện sản phẩm tạo giá trị kinh tế - xã hội cao và phân bổ nguồn lực nhà nước sẽ khó tránh khỏi tính chủ quan. Đồng thời, hiệu quả chính sách cũng khó được giám sát một cách minh bạch.
Cuối cùng, cần có nhóm chính sách riêng cho các lĩnh vực sáng tạo số như âm nhạc số, nội dung số, trò chơi điện tử, thiết kế, nền tảng phân phối và ứng dụng AI. Đây là những lĩnh vực đang tăng trưởng nhanh, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới mà khung chính sách chung khó có thể bao quát đầy đủ: quyền tác giả trong môi trường số; quyền đối với dữ liệu người dùng và dữ liệu sáng tạo; cơ chế phân chia doanh thu giữa người sáng tạo và nền tảng cũng như việc sử dụng nội dung sẵn có để huấn luyện mô hình AI khi chưa có sự đồng ý hoặc cơ chế ghi nhận thỏa đáng cho tác giả. Nếu không có định hướng chính sách cụ thể đối với nhóm lĩnh vực này, Luật sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thị trường, trong khi đây lại là khu vực được kỳ vọng đóng góp mạnh mẽ cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa trong tương lai.
Chung quan điểm, PGS.TS Bùi Hoài Sơn mong muốn Dự thảo tiếp tục thu hẹp những ưu đãi quá rộng và tăng hỗ trợ dựa trên kết quả. Không nên chỉ cần đặt doanh nghiệp trong một “khu sáng tạo” là có thể được hưởng mức ưu đãi cao nhất. Cần nhìn vào kết quả: doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ, bao nhiêu việc làm chất lượng cao, đóng góp thế nào cho thị trường, xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và hệ sinh thái sáng tạo. Tương tự, đầu tư hạ tầng văn hóa phải gắn với hiệu suất sử dụng, số người được phục vụ, số hoạt động và sản phẩm được tạo ra.
"Điều tôi kỳ vọng cuối cùng không phải là sau khi Luật được ban hành chúng ta có thêm bao nhiêu quỹ, bao nhiêu khu hay bao nhiêu chương trình hỗ trợ. Thước đo thành công phải là có nhiều người Việt Nam sống được bằng sáng tạo hơn, nhiều tài sản trí tuệ Việt Nam được hình thành và bảo vệ hơn, nhiều doanh nghiệp văn hóa Việt Nam lớn lên hơn, nhiều sản phẩm Việt Nam có thị trường trong nước và quốc tế hơn, và nhiều giá trị văn hóa Việt Nam được thế giới biết đến, yêu thích và trân trọng hơn. Khi đó, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa mới thực sự tạo ra một thể chế phát triển phù hợp với kỷ nguyên mới", chuyên gia nhấn mạnh.
Cuốn sách Lược sử âm nhạc của nhà nghiên cứu âm nhạc bậc thầy thế giới Robert Philip, dẫn dắt độc giả trên hành trình khám phá cực kỳ lôi cuốn mọi hình thái âm nhạc. 40 chương sách đưa người đọc đi từ dạng thức sơ khai của âm nhạc đến khi con người sử dụng âm nhạc, qua giai đoạn sự lên ngôi của các nhạc cụ, dàn nhạc, đến khi âm nhạc tạo ra những cơn bão trong tâm trí con người thời cách mạng, cuối cùng là âm nhạc trong nhịp sống hiện đại và âm nhạc hướng về tương lai.













