Thế trận biên phòng toàn dân - nền tảng bảo vệ chủ quyền trong tình hình mới
'Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ?' - lời răn dạy đanh thép của vua Lê Thánh Tông từ thế kỷ XV vẫn còn nguyên giá trị định hướng cho sự nghiệp giữ nước hôm nay. Từ bài học 'thế trận toàn dân' trong lịch sử đến tư tưởng 'thế trận lòng dân' của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc luôn bắt nguồn từ sự đồng lòng của nhân dân vùng phên giậu.
Giữa không khí thiêng liêng của mùa xuân mới, nhìn lại hành trình bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, ta càng thêm thấu hiểu: Khi ý Đảng-lòng dân hòa quyện cùng ý chí kiên trung của người lính quân hàm xanh, đó chính là nền tảng vững chắc nhất để xây dựng một biên cương hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.

Cán bộ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Móng Cái, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh thực hiện nghi thức chào cột mốc biên giới. Ảnh: Minh Phúc
Bài học vàng lịch sử
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia luôn được các triều đại phong kiến hết sức quan tâm, vừa thể hiện tầm nhìn xa rộng, lâu dài; vừa cụ thể, phù hợp. Lời nói của vua Lê Thánh Tông (1460-1497) là lời của chân lý lịch sử, cũng là của đạo lý giữ nước, đồng thời cũng là nguyên lý hòa bình với một đất nước trọng hòa hiếu: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày điều ngay lẽ gian...”.
Với một lãnh thổ không rộng nhưng đường biên giới lại rất dài; người không đông; lại phải luôn chống chọi với kẻ thù hai chân (quân xâm lược), bốn chân (thú dữ), không chân (thiên tai, dịch bệnh); nhưng với bản lĩnh tự chủ, tự quyết, tự cường, cha ông ta kiên quyết giữ từng tấc đất, từng thước biển. Bài học vàng quý giá nhất, bao trùm, chiến lược, lâu dài của cha ông là “thế trận toàn dân”, lấy lòng dân làm điểm tựa, hiếu sinh chứ không hề hiếu sát, kiên quyết mà mềm dẻo, lấy hòa mục làm trọng nhưng vẫn giữ vững chủ quyền.
Bài học về cảm hóa, thu phục các tù trưởng người địa phương vùng phên giậu Tây Bắc của Nhà Lê sơ được lịch sử khẳng định, việc giữ yên bờ cõi không chỉ bằng sức mạnh, mà còn bằng lòng vị tha, lấy tình người làm trọng. Vua Lê Thái Tổ thu phục Đèo Cát Hãn ở Mường Lay. Vua Lê Thái Tông cảm hóa Thượng Nghiễm ở Mường Muổi. Những sự kiện ấy làm tiền đề, làm điểm tựa niềm tin để các tù trưởng miền Tây Bắc coi mình như người của triều đình, có trách nhiệm bảo vệ miền biên giới của nước nhà. Trong bài thơ chữ Hán “Quế Lâm ngự chế”, vua Lê Thái Tông viết: “Đường sá khó khăn đừng cậy hiểm/ Hang cùng đá ấm áp hơn xuân/Yên được dân lành nhơ nhớp hết/ Dân xa được hưởng tấm lòng nhân”. Các chữ “yên được dân lành” và “tấm lòng nhân” không chỉ là “chìa khóa” để hiểu bài thơ, còn là “chìa khóa” mở ra hòa bình, hữu nghị mọi miền biên giới.
Không phải đến bài thơ nổi tiếng trên, lý thuyết về “phương lược” mới được mở ra thể hiện trên câu chữ, mà đó là sự tổng kết, khái quát lịch sử, đúc kết lại thành bài học. Trước đó và sau này, cha ông ta rất chú ý chọn tướng tài, thạo việc biên phòng, am hiểu phong tục các dân tộc thiểu số, hiểu lòng người, biết phủ dụ, “tranh thủ” các chức sắc, chức dịch địa phương biên giới để làm “kế sâu rễ bền gốc”. Nhiều triều vua còn “gả” công chúa cho một số tù trưởng uy tín, cũng có ý nằm trong mục đích hòa hiếu lâu dài... Hầu hết các triều đại đều có kế sách phát triển kinh tế, mở mang dân trí, tăng cường dân sinh để mọi vùng miền cùng hưởng thái bình. Trên tinh thần tôn trọng các luật tục, khi cần, các triều đình trung ương sẵn sàng giúp đỡ các bộ tộc người còn khó khăn, hoặc lúc gặp thiên tai, địch họa, kết hợp công tác “dân vận” tuyên truyền, làm cho đồng bào mọi nơi hiểu, tuy có thể khác nhau về trang phục, tiếng nói nhưng đều là “con Lạc, cháu Hồng”, có trách nhiệm đoàn kết, yêu thương nhau chống kẻ xâm lăng, cùng “đồng cam cộng khổ”, tương thân, tương ái...
Bộ đội Biên phòng mãi khắc ghi lời Bác dạy
Kế thừa tinh hoa truyền thống, gắn liền với tình hình hiện tại, Bác Hồ đề ra phương châm “thế trận lòng dân” qua việc phát huy vai trò quần chúng nhân dân vừa để bảo vệ chủ quyền, vừa gây dựng đời sống tốt đẹp hơn. Thấu hiểu ý nghĩa chiến lược của biên giới quốc gia, Bác nhấn mạnh: “Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước”. “Cửa” Tổ quốc là biên giới, cả trên biển, trên đất liền. Người “canh cửa cho Tổ quốc” là cán bộ, chiến sĩ Biên phòng và đồng bào biên giới.
Theo Bác, “Được lòng dân thì việc gì cũng làm được...”. Và “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”. “Giữ nhà” là việc tối quan trọng nên càng phải cần đến dân. Trong ngày thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (3/3/1959), nay là Bộ đội Biên phòng, Bác dạy: “Nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành tốt được... Khi tổ chức được nhân dân thì việc gì cũng làm được”. Do đặc thù hoạt động nơi biên giới, nên “Một vạn công an thì chỉ có hai vạn tai, hai vạn mắt, hai vạn tay chân, nhưng nhân dân có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân. Cho nên chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động”, khi dựa vào dân, sẽ xây dựng thế trận “thiên la địa võng”. Muốn vậy, bộ đội phải bám dân, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc; phải thực sự coi đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt.
Bác nhấn mạnh: “Nhất là Công an Biên phòng, ở những nơi đồng bào thiểu số, phải chú ý đến phong tục tập quán của đồng bào...”. “Thế trận lòng dân”, cần được hiểu rộng rãi, không chỉ “dân ta”, còn là “dân bạn”. Thế nên Bác chủ trương xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Bác dùng từ ngữ biểu cảm cao nhất về việc này: “Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”, “núi liền núi, sông liền sông”, “hữu nghị”, “lâu đời”, “khăng khít”, “như anh, em ruột thịt”, “như răng với môi”... Tư tưởng của Bác là nền tảng vững chắc để xây dựng ngôi nhà hữu nghị mãi mãi bền vững. Lời Bác dạy, lời Đảng trao mãi mãi là ánh sáng soi đường cho Bộ đội Biên phòng giữ gìn biên cương hòa bình, nhân dân hạnh phúc.

Cán bộ Đồn Biên phòng Bình Thạnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp thăm hỏi, động viên người cao tuổi trên địa bàn biên phòng khi Tết đến, xuân về. Ảnh: Văn Quảng
Những chiến công, những việc làm thấu tình dân
Những ngày cuối tháng 10/2025, những cơn lũ lịch sử hung hăng tràn vào miền Trung. Trên nhiều tờ báo nước ngoài có đăng nhiều tấm ảnh những chiến sĩ Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng đi xuồng vào “rốn lũ” hỗ trợ sơ tán người dân, di dời tài sản, dựng nhà tạm, vận chuyển nhu yếu phẩm tiếp tế bà con. Có tờ báo liên tưởng về sự kiện núi lở năm 2024, với hình ảnh cháu bé làng Nủ (Lào Cai) ôm chặt anh bộ đội trẻ, như không muốn rời, sau khi anh hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ bà con. Những chi tiết ấy đã nói rất tự nhiên mà sâu sắc, thấm thía về anh "Bộ đội Cụ Hồ" từ dân mà ra, coi dân là cha mẹ, sẵn sàng hy sinh giúp dân, vì dân. Chắc hẳn ai cũng nhớ tháng 2/2023 xảy ra thảm họa động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ. Theo tư tưởng Bác Hồ, giúp bạn là tự giúp mình, Đội cứu nạn, cứu hộ Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong đó có Bộ đội Biên phòng cùng những chú chó nghiệp vụ đã phát hiện nhiều vị trí gặp nạn, nhờ vậy có những nạn nhân được cứu sống.
Ngày 16/9/2025, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng tổ chức Hội nghị công bố Thư khen của Thủ tướng Chính phủ và trao thưởng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong phòng chống tội phạm. Trong năm 2025, các đơn vị Bộ đội Biên phòng đấu tranh thành công 102 chuyên án; bắt giữ 7.258 vụ/11.236 đối tượng; giải cứu, tiếp nhận, hỗ trợ, sàng lọc, phát hiện 90 nạn nhân, nghi là nạn nhân của tội phạm mua bán người; thu giữ hơn 2,4 tấn ma túy các loại; đã khởi tố điều tra 579 vụ/782 đối tượng; xử phạt vi phạm hành chính 5.010 vụ/7.715 đối tượng, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 66,3 tỷ đồng. Đó là các con số biết nói về Bộ đội Biên phòng xứng đáng là “tấm lá chắn thép” bảo vệ Tổ quốc. Đất nước bình yên nhờ có những người lính quân hàm xanh ngày đêm giữ trời ta xanh sắc thắm hòa bình, giữ biển ta mãi ngân tiếng hát tự do. Là lực lượng nòng cốt trong việc tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, thiên tai ập đến, nơi nào có lũ cuốn, có núi lở, có rừng cháy..., nơi đó Bộ đội Biên phòng có mặt sớm nhất để bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân. Bộ đội Biên phòng làm bác sĩ chữa bệnh, làm thầy giáo dạy trẻ cái chữ, tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật...
Bài học cho hôm nay
Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động khó lường, tội phạm quốc tế ngày một tinh vi, nguy hiểm, lời dạy của Bác Hồ “Lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” càng cần được ý thức sâu sắc hơn, học tập và làm theo. Để từ đó tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò quần chúng nhân dân trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia bằng “thế trận lòng dân”. Không ngừng tăng cường mối liên hệ ruột thịt với quần chúng, đặc biệt chú ý tới đồng bào các dân tộc thiểu số với những đặc thù riêng.
Bên cạnh đó, cách mạng Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế nên việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng luôn mang tính chiến lược. Tăng cường đấu tranh chống các luận điệu phản động xuyên tạc về chủ quyền biên giới quốc gia. Tích cực, chủ động tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vùng biên giới phát triển vững mạnh toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, để thực sự trở thành phên giậu vững chắc bảo vệ biên giới.
Đồng thời, nhanh chóng, triệt để thực hiện chuyển đổi số trong công tác biên phòng, không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội khu vực biên giới. Với hệ thống kiểm soát tự động, khai báo điện tử, quản lý xuất nhập cảnh bằng mã QR, sinh trắc học..., thủ tục hành chính được rút gọn, tạo thuận lợi cho người dân, đồng thời tăng cường an ninh, ngăn chặn tội phạm xuyên biên giới. Chuyển đổi số sẽ chia sẻ dữ liệu trực tuyến giữa Bộ đội Biên phòng với các cơ quan chức năng trong và ngoài nước, với lực lượng bảo vệ biên giới các nước bạn để thống nhất, kịp thời đưa ra các quyết định đúng đắn, phù hợp. Bài học từ các nước phát triển, ngoài việc giúp tăng cường năng lực giám sát, quản lý; các hệ thống camera thông minh, cảm biến radar, vệ tinh... sẽ giúp Bộ đội Biên phòng phát hiện các hành vi xâm nhập, buôn lậu, di cư trái phép, khai thác tài nguyên bất hợp pháp. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ biên giới, chuyển đổi số sẽ hỗ trợ đắc lực công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phổ biến kiến thức cho nhân dân, tạo sự gắn bó quân dân, củng cố lòng tin và tình đoàn kết biên giới.
Mùa xuân mới sắp về. Nhờ sự bảo vệ, chăm sóc của Bộ đội Biên phòng, hạnh phúc đang đua hương, khoe sắc khắp miền biên giới Tổ quốc thân yêu.
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú











