Thêm động lực cho Thủ đô tăng trưởng nhanh và bền vững
Từ nông nghiệp, làng nghề đến thương mại, dịch vụ, nhiều hợp tác xã trên địa bàn Hà Nội đang chuyển sang tổ chức sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và tham gia vào các chuỗi giá trị. Với hơn 618.000 thành viên, kinh tế tập thể có thêm điều kiện để cùng các thành phần kinh tế khác đóng góp tích cực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Thủ đô.

Sản xuất nón tại Hợp tác xã Mây tre nón lá Thu Hương (xã Thanh Oai). Ảnh: Phạm Hòa
Từ nguồn lực phân tán đến sức mạnh thị trường
Một chiếc nón lá có giá trị không cao nếu được làm và tiêu thụ riêng lẻ. Nhưng khi người làm nghề cùng tham gia một tổ chức sản xuất, thống nhất yêu cầu chất lượng, mẫu mã và đầu ra, sản phẩm truyền thống có thể tiếp cận những thị trường xa hơn. Hợp tác xã Mây tre nón lá Thu Hương (xã Thanh Oai) là một ví dụ. Mỗi tháng, hợp tác xã xuất khẩu hơn 5.000 sản phẩm tới nhiều quốc gia, qua đó tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đưa giá trị làng nghề tham gia vào dòng chảy thương mại.
Tại xã Bát Tràng, Hợp tác xã sản xuất kinh doanh Gốm sứ Tân Thịnh lựa chọn phát triển sản phẩm OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) 5 sao gắn với giá trị văn hóa. Cùng với gìn giữ kỹ thuật men truyền thống, hợp tác xã nghiên cứu các dòng men mới, đưa văn hóa vào sản phẩm, hướng đến thị trường quà tặng, quà tặng ngoại giao và du lịch cao cấp. Việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, quảng bá, kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm cho thấy một hướng nâng cao giá trị làng nghề: Không chỉ bán sản phẩm mà còn khai thác tri thức, kỹ năng và bản sắc được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Ở lĩnh vực nông nghiệp, Hợp tác xã sản xuất kinh doanh dịch vụ thủy sản Minh Quân (xã Hòa Xá) phát triển sản phẩm cá rô đầu vuông theo tiêu chuẩn VietGAP. Từ cá tươi, hợp tác xã chế biến thêm cá hấp rút xương, cá chiên, trứng cá; cung cấp khoảng 4 tấn sản phẩm mỗi ngày tới các nhà hàng lớn trên địa bàn Hà Nội. Chế biến sâu đã giúp đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị trên cùng một đơn vị nguyên liệu. Quan trọng hơn, sự liên kết trong hợp tác xã tạo điều kiện ổn định sản lượng và xây dựng niềm tin với khách hàng.
Các mô hình trên đã chứng minh giá trị của kinh tế tập thể trong tập hợp nguồn lực nhỏ lẻ. Thông qua hợp tác xã, các thành viên có thể dùng chung hạ tầng, thống nhất quy trình, tập trung sản lượng và kết nối thị trường, đưa kinh tế hộ từ sản xuất manh mún sang sản xuất hàng hóa.
Những chuyển động ấy đang diễn ra trên phạm vi rộng. Phó Chủ tịch phụ trách Liên minh Hợp tác xã thành phố Hà Nội Nguyễn Tiến Phong cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, thành phố thành lập mới 87 hợp tác xã, giải thể 4 hợp tác xã. Khu vực kinh tế tập thể có hơn 618.000 thành viên, tạo việc làm cho trên 63.500 lao động, với tổng tài sản hơn 4.709 tỷ đồng. Cùng với 22 liên hiệp hợp tác xã và 120 đơn vị thành viên, quy mô này cho thấy nguồn lực đáng kể có thể được huy động cho phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô.
Đáng chú ý, thành phố Hà Nội hiện có khoảng 68 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao với các mô hình nhà màng, tưới tiết kiệm, cảm biến IoT; 134 hợp tác xã phát triển 448 sản phẩm OCOP đạt từ 3 đến 5 sao; 84 hợp tác xã xây dựng chuỗi liên kết với doanh nghiệp và 70 hợp tác xã tham gia chuỗi cung ứng nông sản an toàn. Đây là những chỉ dấu về sự chuyển dịch từ tăng số lượng sang nâng chất lượng, từ sản xuất đơn lẻ sang liên kết thị trường, tạo nền tảng để khu vực kinh tế tập thể đóng góp trực tiếp hơn vào năng suất và tăng trưởng.
Dư địa lớn, điểm nghẽn còn hiện hữu
Quy mô thành viên lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực và gắn chặt với khu vực nông thôn, làng nghề là lợi thế của kinh tế tập thể Hà Nội. Tuy nhiên, nhiều hợp tác xã vẫn có quy mô nhỏ, quản trị hạn chế; thiếu vốn, đất đai, cơ sở vật chất và nhân lực chất lượng cao. Có những sản phẩm yếu về mẫu mã, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc; liên kết chuỗi chưa bền vững, sản lượng thiếu ổn định. Đội ngũ cán bộ tại nhiều hợp tác xã đang già hóa, trong khi lao động trẻ chưa mặn mà với nông nghiệp, làng nghề.
Quá trình đô thị hóa cũng đặt các hợp tác xã trước yêu cầu chuyển đổi khi diện tích sản xuất và nguồn thu từ dịch vụ truyền thống giảm. Tại các làng nghề, thiếu mặt bằng, vốn và công nghệ làm hạn chế khả năng mở rộng; lao động thủ công ngày càng khó thu hút người trẻ, trong khi hàng hóa kém chất lượng gắn nhãn sản phẩm truyền thống ảnh hưởng đến uy tín và thị trường.
Dẫn chứng từ thực tiễn, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất hương làng nghề Xà Cầu Nguyễn Tiến Thi cho biết, hiện nhiều hợp tác xã chưa có trụ sở làm việc ổn định. Ông Nguyễn Tiến Thi đề xuất, thành phố rà soát quỹ tài sản công để ưu tiên bố trí các hợp tác xã thuê dài hạn từ 5 đến 20 năm, tạo điều kiện để các đơn vị yên tâm đầu tư phát triển sản xuất. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế sáp nhập các hợp tác xã quy mô nhỏ, hoạt động kém hiệu quả nhằm hình thành các đơn vị có quy mô lớn hơn, đủ năng lực cạnh tranh...
Những tồn tại đang đặt ra khiến nhiều hợp tác xã khó mở rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và thu hút lao động trẻ. Mặc dù hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ đã tương đối đầy đủ, quá trình tổ chức thực hiện và đưa chính sách đến đúng đối tượng vẫn còn những hạn chế. Các điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực, xúc tiến thương mại và phát triển du lịch làng nghề cần tiếp tục được tháo gỡ.
Nếu các điểm nghẽn không được giải quyết, nguồn lực về lao động, đất đai, tri thức bản địa và mạng lưới kinh tế hộ sẽ chưa thể phát huy đầy đủ. Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi kinh tế tập thể phải phát triển theo chiều sâu, lấy doanh thu, thu nhập của thành viên, khả năng mở rộng thị trường và mức độ tham gia chuỗi giá trị làm thước đo.
Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Xá Phùng Thị Mai Thu cho biết, địa phương định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của 31 hợp tác xã đang hoạt động trên địa bàn; chú trọng sáp nhập, hợp nhất những đơn vị nhỏ lẻ, hoạt động theo phương thức truyền thống để hình thành hợp tác xã quy mô lớn, phát triển đa ngành nghề. Xã cũng sẽ đẩy mạnh chính sách hỗ trợ, ưu đãi; phối hợp với các ngành chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ thông qua hoạt động khuyến công, khuyến nông, giúp hợp tác xã nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Định hướng trên cho thấy vai trò trực tiếp của chính quyền cơ sở trong nắm bắt thực trạng, đồng hành chuyển đổi mô hình, hình thành vùng nguyên liệu, kết nối tiêu thụ và giải quyết vướng mắc. Việc sáp nhập, hợp nhất cần dựa trên tinh thần tự nguyện, hiệu quả và phương án kinh doanh cụ thể, bảo đảm mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao năng lực quản trị.
Ở cấp thành phố, các chính sách hỗ trợ cần tập trung vào những điểm nghẽn lớn như đất đai, tín dụng, khoa học, công nghệ, nhân lực, thị trường. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về kinh tế tập thể sẽ giúp nhận diện đúng thực trạng, phân loại các mô hình và thiết kế chính sách sát với thực tế. Nguồn lực nên ưu tiên những hợp tác xã có phương án kinh doanh khả thi, sản phẩm cạnh tranh, khả năng dẫn dắt thành viên và tạo tác động lan tỏa, thay vì hỗ trợ dàn đều.
Chuyển đổi số phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, từ quản lý thành viên, kế toán, điều hành sản xuất đến truy xuất nguồn gốc, dự báo thị trường và kết nối khách hàng. Các nền tảng dùng chung cùng hoạt động đào tạo, tư vấn sẽ giúp hợp tác xã giảm chi phí tiếp cận công nghệ, chuẩn hóa dữ liệu và mở rộng thị trường.
Liên kết với doanh nghiệp cũng là một hướng then chốt khác. Hợp tác xã có thành viên, vùng nguyên liệu và kinh nghiệm sản xuất; doanh nghiệp có vốn, công nghệ, năng lực chế biến, phân phối và thị trường. Khi hai bên liên kết bằng hợp đồng ổn định, phân chia lợi ích và trách nhiệm rõ ràng, sản xuất nhỏ lẻ có thể trở thành chuỗi hàng hóa quy mô lớn hơn. Việc Hà Nội đang có 84 hợp tác xã xây dựng chuỗi liên kết với doanh nghiệp là nền tảng cần tiếp tục được mở rộng.
Cùng với đó, cần đào tạo, thu hút đội ngũ trẻ có kiến thức về công nghệ, tài chính, marketing và logistics tham gia quản trị hợp tác xã. Tại các làng nghề, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển du lịch trải nghiệm và công nghiệp văn hóa sẽ giúp chuyển giá trị truyền thống thành giá trị kinh tế. Với nông nghiệp, các tiêu chuẩn an toàn, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu sẽ mở đường vào những kênh phân phối có giá trị cao hơn.
Phó Chủ tịch phụ trách Liên minh Hợp tác xã thành phố Hà Nội Nguyễn Tiến Phong đánh giá, khu vực kinh tế tập thể của Thủ đô đang duy trì tốc độ phát triển tích cực, từng bước khẳng định vai trò thành phần kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các hợp tác xã đã từng bước chủ động đổi mới quản trị, mở rộng liên kết, ứng dụng khoa học, công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Kết quả ấy khẳng định kinh tế tập thể không chỉ là khu vực cần hỗ trợ mà còn từng bước trở thành khu vực đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, tạo việc làm và sản phẩm cho nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Hà Nội phải phát huy đồng thời mọi động lực. Kinh tế tập thể có khả năng tập hợp nguồn lực phân tán, đưa hàng trăm nghìn hộ sản xuất tham gia thị trường có tổ chức. Khi các điểm nghẽn được tháo gỡ, sản phẩm bản địa được nâng cao giá trị và hợp tác xã tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, sức mạnh cộng hưởng giữa các thành phần kinh tế sẽ tạo thêm động lực cho Thủ đô tăng trưởng nhanh và bền vững.











