Theo dấu chân danh nhân đất Quảng
Kỳ lạ thay, khi ngoái nhìn lại những năm Ngọ và những năm mang con số 6 trong lịch sử cận - hiện đại, ta thấy hiện lên mạch ngầm tư tưởng gắn với dấu chân một số danh nhân đất Quảng. Đó là những người đi qua thời cuộc, để lại dấu ấn khai mở, khai phóng - như thể mỗi mùa xuân của lịch sử đều mang theo một cuộc lên đường.

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng ở xã Thạnh Bình. ảnh LÊ TRỌNG KHANG
Trong biểu tượng phương Đông, Ngọ là ngựa: chuyển động, bứt phá, rời bỏ trạng thái an nhàn để tiến về phía trước. Và trong di sản tinh thần xứ Quảng, vó ngựa ấy chưa bao giờ chịu đứng yên. Bên dưới những lớp trầm tích văn hóa lâu đời là một dòng chảy bền bỉ của những con người không chấp nhận số phận đóng khung, luôn chọn đi, dù có thể hành trình phía trước gặp gió ngược và bão dông.
Lần theo những vó ngựa của lịch sử, có thể bắt đầu từ Phạm Phú Thứ - một danh nhân sớm bước lên đường “mở mắt nhìn ra thế giới”. Trong lớp sĩ phu thế kỷ 19, ông là người hiếm hoi trực diện với phương Tây bằng trải nghiệm thực tế, để rồi viết lại Tây hành nhật ký - một tác phẩm đặc biệt, thể hiện phong thái một nhà Nho truyền thống đối thoại thẳng thắn với văn minh công nghiệp.
Điều đáng nói ở Phạm Phú Thứ không chỉ là việc ông nhìn thấy máy móc, tàu sắt... của Tây phương mà là ý thức tìm con đường cải cách nảy sinh từ cái nhìn ấy. Ông hiểu rằng đất nước không thể tồn tại nếu chỉ bấu víu kinh sách cũ, rằng học cái mới không phải để đánh mất mình, mà để tự cứu mình. Trong bối cảnh triều Nguyễn còn nặng tư duy bảo thủ, cái nhìn đó như cú thúc cương đầu tiên, khiến vó ngựa tư tưởng Việt Nam bắt đầu đổi hướng. Phạm Phú Thứ chưa phải nhà cách mạng theo nghĩa hiện đại, nhưng ông là người mở lối.
Bước sang đầu thế kỷ 20, đất Quảng tiến vào một chu kỳ tư tưởng mới. Trần Quý Cáp là gương mặt tiêu biểu của lớp sĩ phu đoạn tuyệt với con đường khoa cử thuần túy. Ông nhìn thấy sự bất lực của lối học cũ trước vận mệnh dân tộc và đặt ra câu hỏi căn bản: Học để làm gì? Khi câu hỏi ấy vang lên, con ngựa tư tưởng đã thực sự rời khỏi đường mòn.
Cùng với Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp hợp thành “bộ ba Quảng Nam”, thúc vó ngựa Duy tân phi nước đại. Từ năm 1906, phong trào Duy tân lan rộng trên đất Quảng: trường học mới ra đời, cách học mới được truyền bá, và lần đầu tiên, việc “học để làm người dân tự do” được đặt cao hơn “học để làm quan”. Đất mở, từ đây, không chỉ là không gian địa lý, mà là không gian tinh thần.
Nếu phải chọn một kỵ sĩ dẫn đường cho tư tưởng khai phóng, thì Phan Châu Trinh là gương mặt nổi bật nhất. Trong các chí sĩ đất Quảng, ông là người có tư duy hệ thống và dài hơi. Không chủ trương bạo động, không đặt cược vận mệnh dân tộc vào ngoại lực, Phan Châu Trinh kiên trì con đường cải cách xã hội từ gốc rễ, khai dân trí để tự cường.
Phan Châu Trinh đỗ Phó bảng nhưng thay vì coi đó là chiếc vé bước vào quan trường, ông sớm nhận ra khoa cử đã hoàn thành vai trò lịch sử của nó. Từ sự phản tỉnh ấy, một tư duy mới hình thành và lan tỏa. “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” không phải khẩu hiệu, mà là một trật tự tư duy, trong đó dân trí đứng trước hết - như chiếc yên ngựa quyết định hướng đi của cả hành trình. Phan Châu Trinh từng thẳng thắn bác bỏ tâm thế cầu xin: dân tộc không thể được giải phóng bằng sự ban phát, mà là “chi bằng học”.
Năm 1926, khi chí sĩ Phan Châu Trinh qua đời, tang lễ ông trở thành một sự kiện xã hội lớn trên cả nước, trong đó có đất Quảng. Đông đảo trí thức và người dân tiễn đưa, tưởng tiếc ông về tư cách một nhà tư tưởng yêu nước thương nòi, khác hẳn một quan chức hay một thủ lĩnh vũ trang. Đó là dấu hiệu cho thấy xã hội đã bắt đầu đổi khác trong cách lựa chọn giá trị nhận thức về vai trò dẫn đường của tư tưởng.
Nếu Trần Quý Cáp là tốc độ, Phan Châu Trinh là phương hướng, thì Huỳnh Thúc Kháng là sức bền. Cuộc đời ông đi qua tù đày, báo chí, nghị trường và những thời khắc giữ trọng trách quốc gia. Mười một năm tù thực dân không làm ông cạn ý chí, trái lại, giúp ông tích lũy tri thức để từ một nhà Nho bước sang Tây học, làm báo, làm sách, hoạt động xã hội và chính trị. Năm 1946, khi được giao quyền Chủ tịch nước trong thời khắc sinh tử của dân tộc, một chí sĩ đất Quảng từng tranh đấu ôn hòa đã đứng ở tuyến đầu trách nhiệm với quốc gia. Lịch sử, khi ấy, đã chuyển từ khai phóng tư tưởng sang thử thách quản trị đất nước.
Tinh thần chí sĩ đất Quảng sau đó tiếp tục dịch chuyển sang mặt trận văn hóa. Phan Khôi và Phan Thanh là những đại diện tiêu biểu. Không gươm giáo, không phong trào rầm rộ, họ chọn chữ nghĩa để khai phá. Phan Khôi với tinh thần phản biện sắc sảo, đặt lại nhiều giá trị cũ dưới ánh sáng lý trí. Phan Thanh kiên trì với báo chí và hoạt động văn hóa, tiếp nối con đường khai dân trí theo cách mềm.
Đất Quảng còn gắn với những mùa xuân lịch sử mang con số 6: 1976, 1996 - những lần hợp nhất, chia tách địa giới, đánh dấu các bước ngoặt phát triển. Và Bính Ngọ 2026 này, là mùa xuân đầu tiên sau hợp nhất tỉnh, khi một Đà Nẵng mới đứng trước không gian mở nhiều trung tâm với vận hội từ du lịch, văn hóa, logistics đến đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính quốc tế… Quá nhiều thứ phải học mới làm được!
Vậy tìm về, theo dấu chân danh nhân đất Quảng để làm gì? Để cảm nhận một tinh thần lên đường, khai trí sáng tạo với tinh thần tự lực, tự cường. Tinh thần ấy không phụ thuộc vào năm Ngọ hay không Ngọ trong lịch pháp, mà nằm ở khả năng không chấp nhận đứng yên - dám tự đổi mới, để mỗi mùa xuân đi qua đều in dấu chân tiến về phía trước.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/theo-dau-chan-danh-nhan-dat-quang-3324936.html












