Theo dấu truyền thống 'đánh hiểm thắng lớn' ở Bảo tàng Đặc công

Bảo tàng Đặc công không chỉ là nơi lưu giữ những hiện vật, tư liệu quý giá về lịch sử chiến đấu của Bộ đội Đặc công mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay. Sau lớp kính trưng bày, mỗi hiện vật ở đây đều mang theo một câu chuyện riêng, tái hiện hành trình hình thành và phát triển của một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nằm trên địa bàn xã Nam Phù, TP. Hà Nội, Bảo tàng Đặc công là nơi lưu giữ hàng nghìn hình ảnh, tư liệu, hiện vật về lịch sử, truyền thống chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của bộ đội Đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là bảo tàng lịch sử chuyên ngành, có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền, giáo dục truyền thống về quá trình ra đời, chiến đấu, trưởng thành của bộ đội Đặc công qua các cuộc kháng chiến, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế.

Bảo tàng Đặc công được thành lập năm 1977. Đến năm 1995 được xây dựng mới. Ngày 16/3/2000 bảo tàng được đưa vào sử dụng với diện tích trưng bày 1.400m². Hiện nơi đây có ba tầng trưng bày, giới thiệu hơn 2.000 hiện vật tiêu biểu trong tổng số hơn 6.000 hiện vật gốc đang được lưu giữ.

Khác với nhiều bảo tàng quân sự, bảo tàng Đặc công không gây ấn tượng bằng khí tài, phương tiện, vũ khí quy mô lớn, hiện vật ở đây phần nhiều nhỏ bé, thô sơ, có khi là những vật dụng rất đời thường của cán bộ, chiến sĩ như: vỏ đạn, mảnh bom, bức thư, tấm ảnh, chiếc bật lửa, cặp lồng, ống nhòm… Những hiện vật này gắn liền với các chiến sĩ trong suốt chặng đường chiến đấu, hoạt động bí mật, luồn sâu, áp sát mục tiêu, trong các trận đánh hiểm vào các vị trí trọng yếu của địch.

Ngay từ phần mở đầu, bảo tàng giới thiệu những mô hình tái hiện các trận đánh nổi tiếng trong lịch sử dân tộc như trận Bạch Đằng gắn với Yết Kiêu thời Trần thế kỷ XIII, trận đánh thành Tam Giang của Trần Nguyên Hãn thế kỷ XV, hay cách đánh của Quang Trung - Nguyễn Huệ thế kỷ XVIII. Đây được xem là những tiền đề góp phần hình thành nghệ thuật tác chiến đặc công sau này.

Theo Thượng tá Quân nhân chuyên nghiệp Phạm Tố Loan – cán bộ bảo tàng, các không gian trưng bày được bố trí theo từng chủ đề, gắn với niên biểu và các giai đoạn lịch sử, giúp người xem hình dung được tương đối hệ thống về quá trình hình thành, phát triển và những chiến công tiêu biểu của Bộ đội Đặc công.

Tiếp nối mạch trưng bày ấy là không gian giới thiệu về Bộ đội Đặc công trước ngày thành lập Binh chủng, với nhiều hình ảnh, hiện vật về các trận đánh tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp và giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ.

Một điểm nhấn quan trọng là phần trưng bày về sự kiện thành lập Binh chủng Đặc công ngày 19/3/1967 tại Trường Cán bộ Dân tộc Trung ương ở Phùng Khoang, Từ Liêm, Hà Nội. Tại đây, bảo tàng còn lưu giữ nhiều hình ảnh, hiện vật của ngày công bố thành lập Binh chủng cùng toàn văn bài huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Bộ đội Đặc công.

Bảo tàng cũng dành không gian tái hiện giai đoạn Bộ đội Đặc công tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, một dấu mốc đặc biệt của chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Qua hệ thống trưng bày, người xem không chỉ hiểu thêm về nghệ thuật tác chiến đặc công, mà còn cảm nhận rõ hơn phẩm chất của những người lính đã làm nên truyền thống “đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời, mưu trí táo bạo, đánh hiểm thắng lớn” của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong không gian trưng bày, đáng chú ý là mô hình tái hiện trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên năm 1948, thể hiện cho tinh thần mưu trí sáng tạo, quyết đánh, quyết thắng của lực lượng ta. Đó chính là trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên gắn liền với tên tuổi của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Trần Công An. Trận đánh được xem là dấu mốc mở đầu cho lối đánh của lực lượng bộ đội Đặc công sau này.

Nếu như các mô hình về trận Bạch Đằng của Yết Kiêu, trận đánh thành Tam Giang của Trần Nguyên Hãn hay cách đánh của Quang Trung - Nguyễn Huệ gợi nhắc về truyền thống đánh giặc mưu trí, sáng tạo của dân tộc, thì trận tháp canh cầu Bà Kiên với cách đánh bất ngờ, lấy ít đánh nhiều đã khai sinh ra lối đánh đặc công của lực lượng ta và vùng đất Tân Uyên - Chiến khu Đ trở thành nơi khởi phát của cách đánh này. Du kích Tân Uyên về sau thành lập đại đội bộ đội địa phương Nguyễn Văn Nghĩa, được công nhận là đại đội đặc công đầu tiên của cả nước.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sử dụng lối đánh đặc công tấn công các đồn bót, kho tàng, căn cứ quân sự hiểm yếu của địch. Bằng lối đánh bất ngờ, lấy ít đánh nhiều, lực lượng đặc công đã làm nên những chiến công vang dội, tiêu diệt và làm tiêu hao nhiều sinh lực địch. Người có công đầu trong việc xây dựng, hình thành lối đánh đặc công là cố Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Trần Công An - đồng chí Hai Cà.

Đặc biệt ở Biên Hòa, theo cách đánh này, các chiến sĩ đặc công của ta đã làm nên những chiến thắng vang dội như: chiến thắng Sân bay Biên Hòa và Tổng kho Long Bình. Người kế tục cách đánh này là Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thanh Tùng, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai.

Ngày 19/3/1967, tại Trường Cán bộ Dân tộc Trung ương, ở xã Phùng Khoang, huyện Từ Liêm (nay là phường Thanh Xuân), TP Hà Nội. Bộ đội Đặc công vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng, Nhà nước và Quân đội, đến thăm, xem Bộ đội Đặc công trình diễn kỹ thuật, chiến thuật và tuyên bố Đặc công chính thức là một Binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt… các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt... cái gì cũng đặc biệt đối với đặc công, chữ đặc biệt quán xuyến tất cả, từ lúc tập luyện cho đến lúc đi đánh, cũng như lúc về…”.

Từ cách đánh đặc công trên bộ, chiến trường miền Nam đã hình thành cách đánh đặc công thủy và Đồng Nai có người chiến sĩ Rừng Sác tiên phong là Đại tá Lê Bá Ước, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác với trận đánh kho xăng Nhà Bè vang dội, lẫy lừng. Phương châm: Đặc biệt tinh nhuệ - anh dũng tuyệt vời - mưu trí táo bạo - đánh hiểm thắng lớn đã và đang được binh chủng phát huy.

Bên trong khu trưng bày của Bảo tàng, có những hiện vật rất nhỏ, rất bình thường, không cầu kỳ về hình thức nhưng phía sau đó là câu chuyện lịch sử đặc biệt. Đó là khẩu súng tiểu liên K61 của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước (Bảy Ước).

Khẩu súng mang số đăng ký 763/K3/163, được Thượng tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam tặng ông năm 1971, khi ông nhận nhiệm vụ trở lại Rừng Sác, đảm nhiệm chức Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 lần thứ hai. Cùng với khẩu súng, ông được cấp 100 viên đạn. Từ đó, khẩu K61 luôn theo ông trên nhiều chiến trường, từ Củ Chi, Chiến khu Đ đến Rừng Sác.

Gắn với khẩu súng ấy là những năm tháng ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng, trong đó có trận đánh Kho bom Thành Tuy Hạ tháng 12/1972 và trận đốt cháy Kho xăng Nhà Bè tháng 12/1973. Riêng trận Nhà Bè, Đội 5 Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác được giao nhiệm vụ đánh kho xăng Shell. Sau nhiều tháng trinh sát, đêm 2 rạng sáng 3/12/1973, 8 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 5 do Đại đội phó Hà Quang Vóc chỉ huy đã tiếp cận mục tiêu, đặt mìn hẹn giờ, thiêu hủy hơn 70 bồn chứa, 140 triệu lít xăng dầu, một tàu 12.000 tấn và hệ thống lọc dầu.

Từ năm 1966 đến 1973, Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã tổ chức 740 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 6.200 tên địch, đánh cháy, đánh chìm nhiều tàu thuyền chiến đấu, tàu vận tải quân sự và bắn rơi 23 máy bay lên thẳng. Với những chiến công đó, đơn vị được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 13/9/1973.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ở hướng cánh Đông, ông cùng đơn vị phối hợp tác chiến, giữ các cây cầu quan trọng, bảo đảm cho xe tăng tiến vào Sài Gòn. Đặc biệt, Trung đoàn 116 Đặc công đã yểm trợ xe tăng Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2 tiến đánh Dinh Độc Lập lúc 11h30 ngày 30/4/1975.

Năm 1978, trên cương vị Phó chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự Đồng Nai, khẩu K61 tiếp tục cùng ông có mặt tại các trận địa Kampong Thom, trong chiến đấu chống quân Pôn Pốt, bảo vệ nhân dân khu vực biên giới Lộc Ninh - Bù Đốp.

Một kỷ vật khác cũng gợi nhiều xúc động là chiếc xe HINO PICKUP của đồng chí Trần Văn Lai (Năm Lai), chiến sĩ biệt động Sài Gòn hoạt động dưới vỏ bọc nhà tư sản, nhà thầu khoán Mai Hồng Quế còn được gọi là “ông Năm USOM”.

Năm 1966, ông Trần Văn Lai hoàn thành việc mua nhà, xây hầm bí mật tại số 287/70 đường Trần Quý Cáp. Từ căn hầm này, nhiều vũ khí, lượng nổ được cất giấu để phục vụ kế hoạch đánh vào các mục tiêu trọng yếu của địch. Chiếc HINO PICKUP biển số EC-6045, vốn là xe của gia đình ông, được sử dụng để vận chuyển vũ khí, lượng nổ qua nhiều tuyến phố Sài Gòn mà không để lộ tung tích.

Chiều 30 Tết Mậu Thân, đồng chí Nguyễn Văn Tăng, tức Tư Tăng, đến nhà ông nhận vũ khí, lượng nổ. Đêm mùng 1 Tết, Đội 5 Biệt động Sài Gòn gồm 15 chiến sĩ tập kết tại căn nhà 287/70. Ông Trần Văn Lai đã chuyển vũ khí từ hầm bí mật lên xe, rồi dùng chính chiếc HINO PICKUP chở Đội 5 đi đánh Dinh Độc Lập.

Bốn ngày sau trận đánh, từ chiếc xe tải để lại hiện trường, địch phát hiện ông là chiến sĩ cách mạng. Toàn bộ nhà cửa, tài sản bị tịch thu; chính quyền Sài Gòn treo thưởng 2 triệu đồng cho ai bắt được “nhà tư sản Mai Hồng Quế”.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, ông vẫn hiến tặng ngôi nhà 287/70 Trần Quý Cáp cho Nhà nước làm di tích lịch sử cấp quốc gia. Ông cũng tự bỏ tiền chuộc lại những tài sản từng mua và sử dụng trong kháng chiến để làm hiện vật bảo tàng.

Năm 1976, ông tặng chiếc xe HINO PICKUP cho Bảo tàng Đặc công làm hiện vật lịch sử. Chiếc xe nhỏ ấy trở thành chứng tích đặc biệt về những chiến công thầm lặng của người chiến sĩ biệt động từng âm thầm chiến đấu ngay trong lòng địch.

Mỵ Châu - Thanh Hà

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/theo-dau-truyen-thong-danh-hiem-thang-lon-o-bao-tang-dac-cong.html