Thi 2 hay 3 môn vào lớp 10 cần kiểm chứng bằng dữ liệu

Cần phân tích khả năng phân hóa của đề, độ tin cậy của kết quả, mức độ phù hợp giữa nội dung được đánh giá với mục tiêu tuyển sinh lớp 10.

Học sinh tham gia Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội năm 2026. Ảnh: Đình Tuệ.

Học sinh tham gia Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội năm 2026. Ảnh: Đình Tuệ.

Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tiếp nhận học sinh đầu cấp. Theo đó, tuyển sinh vào lớp 10 có thể thực hiện bằng xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét tuyển; nếu áp dụng thi tuyển, số môn thi được đề xuất còn 2 môn Toán và Ngữ văn, thay vì 3 môn như hiện tại. ThS Hoàng Tăng Đức, chuyên gia khảo thí đến từ Trường Đại học Vinh có một số trao đổi về vấn đề này.

Giảm số môn có giảm áp lực?

Bộ GD&ĐT đang đưa ra dự kiến đối với phương án thi tuyển vào lớp 10 sẽ chỉ còn 2 môn thi bắt buộc là Toán và Ngữ văn, thay vì 3 môn như trước. Theo ông, điều này sẽ tạo ra những thay đổi đáng chú ý nào đối với kỳ thi và học sinh?

Trước hết, tôi nghĩ cần nói chính xác rằng đây đang là phương án trong dự thảo được Bộ GD&ĐT đưa ra lấy ý kiến, chưa phải quy định chính thức. Nếu phương án mới được thông qua, thay đổi dễ thấy nhất là kỳ thi sẽ gọn hơn. Học sinh bớt một môn thi, việc tổ chức thi cũng giảm được một phần khối lượng công việc và chi phí.

Nhưng dưới góc độ khảo thí, tôi quan tâm nhiều hơn đến một câu hỏi khác: Với chỉ 2 bài thi, chúng ta có thu được đủ thông tin cần thiết để phục vụ đúng mục đích tuyển sinh hay không? Không nên mặc định rằng 3 môn chắc chắn tốt hơn 2 môn; nhưng cũng không nên mặc định rằng bỏ một môn thi chỉ đem lại lợi ích.

Muốn trả lời một cách khoa học, cần có dữ liệu thực tế: Khả năng phân hóa của đề, độ tin cậy của kết quả, mức độ phù hợp giữa nội dung được đánh giá với mục tiêu tuyển sinh và tác động của phương án đó tới việc dạy và học ở THCS. Theo tôi, đây mới là những vấn đề cần được đánh giá kỹ lưỡng trước khi quyết định.

ThS Hoàng Tăng Đức - chuyên gia khảo thí đến từ Trường Đại học Vinh. Ảnh: NVCC.

ThS Hoàng Tăng Đức - chuyên gia khảo thí đến từ Trường Đại học Vinh. Ảnh: NVCC.

Mục tiêu của việc giảm môn thi là giảm áp lực cho học sinh. Tuy nhiên, liệu việc chỉ thi Toán và Ngữ văn có thực sự giúp giảm áp lực và có làm tăng nguy cơ học lệch không thưa ông?

Tôi cho rằng cần hết sức thận trọng với cách nói “giảm môn thi là giảm áp lực”. Giảm từ 3 bài thi xuống 2 chắc chắn làm giảm số bài mà học sinh phải dự thi. Nhưng áp lực tuyển sinh còn phụ thuộc vào số lượng học sinh, chỉ tiêu, mức độ cạnh tranh vào từng trường, cách ra đề và kỳ vọng của gia đình.

Nếu số chỗ học ở những trường có nhu cầu cao vẫn hạn chế thì áp lực cạnh tranh không mất đi. Nó có thể tập trung nhiều hơn vào hai môn còn lại. Tôi cũng lo ngại về nguy cơ học lệch, nhưng xin nhấn mạnh đây là nguy cơ cần theo dõi, không nên khẳng định trước rằng cứ thi 2 môn thì học sinh chắc chắn sẽ học lệch.

Trong khi đó, Chương trình GDPT 2018 xác định mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh chứ không chỉ thành tích ở một vài môn học. Vì vậy, đừng chỉ đếm xem học sinh thi bao nhiêu môn để kết luận áp lực đã giảm. Cần nhìn xem các em phải học như thế nào trước kỳ thi, học thêm bao nhiêu, gia đình phải bỏ ra bao nhiêu nguồn lực và các môn học khác có bị xem nhẹ hay không.

Lưu ý về tính phân loại học sinh

Cô trò lớp 9, Trường THCS Tây Mỗ (phường Tây Mỗ, Hà Nội) trong giờ Toán. Ảnh: Đình Tuệ.

Cô trò lớp 9, Trường THCS Tây Mỗ (phường Tây Mỗ, Hà Nội) trong giờ Toán. Ảnh: Đình Tuệ.

Theo ông, nếu chỉ thi 2 môn Toán và Ngữ văn liệu có đủ khả năng phân loại học sinh để các trường THPT, đặc biệt là những trường có mức độ cạnh tranh cao lựa chọn được đúng đối tượng hay không?

Thực tế cho thấy, khả năng phân loại không đơn giản phụ thuộc vào số lượng môn thi. Hai bài thi được thiết kế tốt có thể cung cấp thông tin phân loại tốt hơn ba bài thi được thiết kế kém. Ngược lại, dù tổ chức nhiều môn nhưng đề thi chủ yếu kiểm tra ghi nhớ, câu hỏi quá dễ hoặc quá khó, độ phân hóa thấp thì cũng chưa chắc tuyển chọn tốt.

Điều cần quan tâm là chất lượng của công cụ đánh giá. Đồng thời, cần phân biệt khả năng phân loại với phạm vi năng lực được đánh giá. Hai bài thi có thể tạo ra mức độ phân hóa tốt về điểm số, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc hai bài thi đại diện đầy đủ cho toàn bộ năng lực học tập của một học sinh. Một công cụ tuyển sinh chỉ nên được dùng cho những kết luận mà nó thực sự cung cấp đủ bằng chứng để hỗ trợ...

Với những trường có mức cạnh tranh rất cao, yêu cầu về độ chính xác của kết quả càng lớn. Trong khoa học đo lường, một quyết định có hệ quả lớn đối với người học thì bằng chứng dùng cho quyết định đó càng cần được kiểm chứng cẩn trọng về độ giá trị, độ tin cậy và tính công bằng. Do vậy, trước khi khẳng định hai môn là đủ, theo tôi cần có bằng chứng từ dữ liệu, chứ không nên chỉ dựa vào cảm nhận.

Nếu mục tiêu lâu dài là giảm áp lực thi cử nhưng vẫn bảo đảm chất lượng đầu vào THPT, theo ông, ngoài cân nhắc số môn thi, cần đổi mới những khâu nào trong tuyển sinh lớp 10?

Nếu chỉ thay đổi số môn mà những khâu còn lại giữ nguyên thì chúng ta mới thay đổi phần nhìn thấy nhất của kỳ thi. Việc đầu tiên cần đầu tư là chất lượng đề thi. Đề phải đánh giá được những yêu cầu cần đạt quan trọng của chương trình, hạn chế tình trạng học thuộc mẫu và luyện mẹo.

Thứ hai là quy trình xây dựng đề, cần làm tốt từ ma trận, đặc tả, biên soạn, phản biện đến phân tích kết quả sau thi. Với một kỳ thi ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội học tập của hàng trăm nghìn học sinh, chất lượng đề thi không thể chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của người ra đề.

Thứ ba là tính ổn định và minh bạch. Học sinh, giáo viên và phụ huynh cần được biết đủ sớm phương thức tuyển sinh, nguyên tắc xét tuyển và định hướng đánh giá.

Nhưng sâu hơn nữa, tôi cho rằng phải nhìn vào cung – cầu chỗ học. Ở đâu số học sinh muốn vào một số trường lớn hơn rất nhiều so với khả năng tiếp nhận thì ở đó vẫn tồn tại cạnh tranh, dù chúng ta thi 2 môn, 3 môn hay đổi sang một hình thức tuyển sinh khác.

Vì vậy, giảm áp lực tuyển sinh không thể chỉ là câu chuyện kỹ thuật của một kỳ thi. Nó còn liên quan tới quy hoạch mạng lưới trường lớp, chất lượng tương đối giữa các trường và khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Và đặc biệt, một thay đổi lớn như giảm số môn thi cũng nên đi kèm đánh giá tác động dựa trên dữ liệu.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Đình Tuệ - Huyền Thanh

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/thi-2-hay-3-mon-vao-lop-10-can-kiem-chung-bang-du-lieu-post794758.html