Thí sinh cần tìm đúng ngành, đúng trường hơn 'ôm' nhiều nguyện vọng

Nhiều điểm mới trong Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 đang thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt là các thí sinh. Những điều chỉnh này của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) nhằm hướng tới nâng cao chất lượng nguồn tuyển, đảm bảo công bằng cho tất cả thí sinh. Mặc dù vậy quy chế tuyển sinh cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với thí sinh.

Mùa tuyển sinh đang đến gần, PV Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT xung quanh vấn đề này.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học.

PV:Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 do Bộ GD&ĐT vừa ban hành có nhiều điểm mới. Đâu là những điều chỉnh quan trọng mà thí sinh cần nắm vững để có thể tự tin bước vào mùa tuyển sinh năm nay, thưa GS?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Điều chỉnh đầu tiên, đồng thời cũng là điểm nhấn quan trọng của Quy chế là xác định lại nguồn tuyển. Luật Giáo dục đại học đã quy định rõ hơn nguồn tuyển nhằm kiểm soát chất lượng đầu vào.

Từ năm 2026, tất cả các phương thức xét tuyển, thí sinh đạt tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm thi của môn Toán và Ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 15 theo thang điểm 30 (không áp dụng với thí sinh đặc cách hoặc được miễn thi tốt nghiệp) trừ tuyển thẳng. Đối với thí sinh xét tuyển sử dụng kết quả học tập cấp THPT (học bạ) yêu cầu tổ hợp xét tuyển sử dụng điểm trung bình chung kết quả học tập đủ 03 năm cấp THPT (lớp 10, lớp 11 và lớp 12) của tối thiểu 3 môn học, trong đó bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn, với trọng số tính điểm xét không thấp hơn 1/3 tổng điểm theo thang điểm 30.

Điều chỉnh thứ hai liên quan đến số lượng nguyện vọng xét tuyển. Trên cơ sở rà soát tổng thể dữ liệu của 3 năm trở lại đây, Bộ GD&ĐT đã thống nhất chốt phương án thí sinh được đăng ký tối đa 15 nguyện vọng vào các chương trình đào tạo, các trường khác nhau. Riêng các chương trình đào tạo giáo viên chỉ xét tuyển các nguyện vọng có thứ tự từ 1 đến 5, để tập trung nguồn lực phát triển ngành này thời gian tới.

Điều chỉnh thứ ba liên quan đến quy định về điểm cộng trong đó có điểm khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ quốc tế. Trường đại học có thể xây dựng phương án chuyển đổi điểm của chứng chỉ ngoại ngữ sang thang điểm 10 thay thế môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển, hoặc cộng điểm khuyến khích và điểm cộng giới hạn tối đa là 1,5 điểm theo thang điểm 30.

Quy chế mới cũng bổ sung đối tượng xét tuyển đại học đối với những thí sinh theo học chương trình đào tạo quốc tế, giảng dạy, học tập ở bậc THPT bằng tiếng nước ngoài; những sinh viên, học sinh quốc tịch nước ngoài hoặc người Việt Nam học ở nước ngoài. Về điểm ưu tiên khu vực sẽ căn cứ vào ngôi trường thí sinh học tập năm cuối ở bậc THPT, hoặc có thời gian học tập lâu nhất.

Ngoài ra, Quy chế tuyển sinh năm 2026 cũng có thêm một số điều chỉnh về một số kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu xét tuyển trong thời gian tới. Chúng tôi cũng mong muốn Quy chế tuyển sinh năm 2026 sẽ duy trì ổn định trong thời gian dài bởi khi xây dựng quy chế, Bộ GD&ĐT đã bám sát vào các mục tiêu quan trọng tại Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo để làm cơ sở, tiền đề.

PV: Quy chế tuyển sinh đã có điều chỉnh về điểm cộng (bao gồm điểm thưởng, điểm xét thưởng, điểm khuyến khích) tối đa là 3,0 điểm theo thang điểm 30. Đáng chú ý, lợi thế từ các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế như IELTS đều giảm so với trước. Những điều chỉnh này sẽ tác động như thế nào đến thí sinh, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Quy định điểm cộng không vượt quá 10% thang điểm xét tuyển, tức là tối đa 3 điểm với thang điểm 30 đã có từ trước nhưng do cách thức cộng điểm của các trường đại học không giống nhau đã dẫn đến có sự “chênh lệch” đáng kể về điểm cộng của cùng một thí sinh xét tuyển vào các trường đại học khác nhau trong cùng một đợt. Do đó, Quy chế tuyển sinh năm 2026 khắc phục phần nào điểm bất cập này, cụ thể là điểm thưởng dành cho thí sinh trong diện tuyển thẳng nhưng không dùng để xét tuyển thẳng.

Ví dụ, một thí sinh được giải nhất quốc gia hoặc giải Olympic quốc tế môn Toán có thể đăng ký vào các ngành có xét tuyển thẳng môn này. Nhưng nếu thí sinh không dùng quyền xét tuyển thẳng, mà chỉ dùng giải thưởng này để xét tuyển vào một ngành khác không sử dụng giải Olympic môn Toán để xét tuyển thẳng thì các trường đại học có thể cộng điểm thưởng cho thí sinh.

Thứ hai là điểm xét thưởng đối với thí sinh có thành tích hoặc có năng khiếu đặc biệt. Trước đây, nhóm này cho phép cộng 3 điểm, nhưng nay giới hạn từ 0-1,5 điểm tùy các trường đại học căn cứ vào mức độ phù hợp của thành tích, năng khiếu đó với ngành đào tạo.

Thứ ba là điểm khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ quốc tế, từ 0-1,5 điểm. Riêng với chứng chỉ ngoại ngữ, nếu tổ hợp xét tuyển vào ngành đào tạo có sử dụng môn ngoại ngữ thì các trường đại học có thể lấy điểm chứng chỉ ngoại ngữ quy đổi sang thang điểm 10, theo 5 bậc khác nhau để thay thế môn này trong tổ hợp xét tuyển.

Trường hợp sử dụng những tổ hợp không có môn ngoại ngữ, thí sinh có thể được các trường cộng điểm khi có chứng chỉ ngoại ngữ, nhưng tối đa là 1,5 điểm tùy theo kết quả của chứng chỉ ngoại ngữ. Điều chỉnh này một mặt vừa khai thác được năng lực ngoại ngữ của thí sinh vừa bảo đảm nguyên tắc công bằng trong xét tuyển. Với cách quy đổi này, chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng 1 lần, hoặc thay thế môn ngoại ngữ hoặc được cộng điểm khuyến khích. Như vậy, chứng chỉ trên thực tế vẫn được ghi nhận trong tuyển sinh một cách hợp lý.

Thí sinh cần sắp xếp nguyện vọng phù hợp để tăng cơ hội trúng tuyển vào ngành yêu thích.

Thí sinh cần sắp xếp nguyện vọng phù hợp để tăng cơ hội trúng tuyển vào ngành yêu thích.

PV: Vì sao Quy chế tuyển sinh năm 2026 lại quy định thí sinh chỉ được đăng ký tối đa 15 nguyện vọng. Điều chỉnh này liệu có “thu hẹp” cơ hội của thí sinh không, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Thực tế cho thấy, khi đề xuất các chính sách, Bộ GD&ĐT đã có nghiên cứu, rà soát, tổng kết, đánh giá dựa trên cơ sở khoa học, dữ liệu phân tích của thí sinh đăng ký xét tuyển từ giai đoạn 2022 trở lại đây.

Những năm trước đây, khi không giới hạn nguyện vọng, thống kê cho thấy hầu hết thí sinh đặt từ 1-5 nguyện vọng và phổ trúng tuyển của các em nằm ở nguyện vọng 1 đến nguyện vọng 4. Trong đó, khoảng 35,5% trúng tuyển ở nguyện vọng 1. Số lượng thí sinh đăng ký xét tuyển từ nguyện vọng 10 trở lên là khoảng 1,5% nhưng trúng tuyển thì chỉ 0,34%. Khi trúng tuyển ở những nguyện vọng này, cũng rất ít bạn xác nhận nhập học mà lại đợi xét tuyển đợt bổ sung. Như vậy, có thể thấy các em đặt nhiều nguyện vọng để có phương án dự phòng nhưng không theo học khi trúng tuyển.

Việc quy chế tuyển sinh điều chỉnh theo hướng giới hạn số nguyện vọng đăng ký xét tuyển nhằm hướng đến 2 mục tiêu. Thứ nhất là để thí sinh định vị rõ năng lực, sở trường của mình, tìm hiểu môi trường, ngành đào tạo, trường đại học phù hợp. Thứ hai, dựa trên dữ liệu, Bộ GD&ĐT thấy rằng, nếu cho phép đăng ký quá nhiều nguyện vọng sẽ gây lãng phí cho xã hội, lãng phí với cộng đồng, với gia đình và các cơ sở đào tạo.

Mặc dù qua tổng kết cho thấy, 10 nguyện vọng có thể là con số tương đối an toàn và đầy đủ, tuy nhiên xét trên tổng thể, chúng tôi vẫn đề xuất con số 15 nguyện vọng để giảm áp lực, tạo tâm lý cho thí sinh yên tâm hơn khi đăng ký xét tuyển.

PV: Theo GS, thí sinh cần có “chiến lược” sắp xếp các nguyện vọng như thế nào để tăng cơ hội trúng tuyển vào đại học?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Thí sinh không nên quá lo lắng trước thay đổi về việc giới hạn số lượng nguyện vọng. Theo kinh nghiệm, khi bắt tay vào việc xác định nguyện vọng, các em sẽ thấy 15 nguyện vọng là rất nhiều và không nhiều thí sinh sẽ lựa chọn đủ 15 nguyện vọng. Việc quan trọng nhất là thí sinh phải xác định đúng năng lực, thực lực của bản thân, các em đã học tập tốt như thế nào, chuẩn bị cho ngưỡng cửa đại học ra sao, đã chuẩn bị những gì cho kỳ thi tốt nghiệp THPT hay những phương thức mình sẽ sử dụng trong thời gian sắp tới như thế nào... Đó chính là chìa khóa, là nguồn lực các em nên tập trung ở thời điểm này.

Đến thời điểm đăng ký nguyện vọng xét tuyển, thí sinh có thể sắp xếp theo 3 nhóm: Nguyện vọng ước mơ, nguyện vọng phù hợp với năng lực của bản thân và nhóm nguyện vọng an toàn. Với cách sắp xếp thông minh như vậy, các em sẽ có cơ hội cao đỗ vào các trường đại học hay các ngành đào tạo mà mình mong muốn. Thời điểm hiện tại, các bạn hãy xây dựng kế hoạch học tập khoa học, giữ gìn sức khỏe cho các kỳ thi, các phương thức xét tuyển là thế mạnh của mình, tìm hiểu các ngành đào tạo, các trường đại học mình dự kiến đăng ký xét tuyển, tham khảo mức học phí, điều kiện học tập của các anh chị em sinh viên khóa trước để có nhiều thông tin hơn.

PV: Xin GS “bật mí” về xu hướng đăng ký ngành nghề của thí sinh tham gia xét tuyển những năm gần đây. Theo GS, khi lựa chọn ngành học, trường học, thí sinh cần ưu tiên vào những tiêu chí nào?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Với xu hướng đăng ký ngành nghề, về mặt tổng thể thì trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội sẽ có những yêu cầu, mục tiêu khác nhau. Có những giai đoạn Chính phủ, Nhà nước có những ưu tiên nhất định trong việc đầu tư để phát triển một số nhóm ngành. Chẳng hạn như giai đoạn 2026-2030, xa hơn là tới năm 2035, chúng ta đang có những đề án đào tạo nguồn nhân lực về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo, đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, hay nhóm 11 ngành lĩnh vực công nghệ chiến lược... Đây là những nhóm ngành Chính phủ đã và đang đầu tư phát triển trong thời gian tới.

Theo đó, Nhà nước không chỉ đặt hàng các trường đại học đào tạo mà tới đây còn có chính sách về học phí, học bổng, tín dụng, tài chính để hỗ trợ sinh viên theo học. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng tất cả các ngành, lĩnh vực đều có ưu thế và đều cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội… Riêng đối với thí sinh, khi lựa chọn ngành nghề, các em hãy quan tâm tới năng lực, sở trường của mình ở đâu hơn là xu hướng ngành nghề. Các bạn hãy xác định mình ở đâu, mình thích gì, mình có mong muốn theo đuổi ngành đó hay không.

Ngoài ra, giữa chọn ngành và chọn trường, quyết định của các em cần dựa trên năng lực, sở trường để xác định ngành học phù hợp và trường học phù hợp. Mỗi trường có một triết lý, thế mạnh riêng, đặc thù riêng, vì thế trước khi chọn ngành, chọn trường, các em hãy tìm hiểu bản thân mình trước.

PV: Xin trân trọng cảm ơn GS về cuộc trò chuyện này!

T.Phương – H.Thanh

Nguồn CAND: https://cand.com.vn/giao-duc/thi-sinh-can-tim-dung-nganh-dung-truong-hon-om-nhieu-nguyen-vong-i798817/