Thị trường bất động sản hàng hiệu mở rộng tại Việt Nam
Tại TP Hồ Chí Minh, các dự án nhà ở hàng hiệu đang xuất hiện tại những khu vực trung tâm như Tôn Đức Thắng và Phạm Ngũ Lão; mô hình này cũng mở rộng tại Hà Nội và các dự án tại Đà Nẵng và Phú Yên.

Nhiều dự án căn hộ ở Đà Nẵng được hình thành. (Ảnh: Hải Âu/TTXVN)
Sự gia tăng tài sản và nhu cầu nâng cao chất lượng sống đang mở rộng thị trường bất động sản hàng hiệu tại Việt Nam với nguồn cung được dự báo tăng thêm 152% vào năm 2032, tương đương quy mô khoảng 2,5 lần hiện nay.
Từ nhu cầu nghỉ dưỡng đến sở hữu nhà ở cao cấp
Theo báo cáo Branded Residences Asia Pacific 2026 của Savills, Việt Nam hiện dẫn đầu Top 10 thị trường châu Á-Thái Bình Dương về số lượng dự án bất động sản hàng hiệu (Branded Residences), vượt Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc. Savills dự báo nguồn cung phân khúc này tại Việt Nam sẽ tăng thêm 152% đến năm 2032.
Tốc độ này đồng nghĩa quy mô nguồn cung tương lai có thể gấp khoảng 2,5 lần hiện nay, cho thấy bất động sản hàng hiệu đang mở rộng nhanh thay vì chỉ là một phân khúc ngách của thị trường cao cấp.
Đáng chú ý, động lực tăng trưởng của Branded Residences tại châu Á-Thái Bình Dương đang thay đổi. Theo Savills, sự gia tăng tài sản và nhu cầu của người mua trong nước ngày càng đóng vai trò lớn hơn, thay cho sự phụ thuộc chủ yếu vào dòng vốn quốc tế. Tại Việt Nam, diễn biến này cho thấy sự xuất hiện ngày càng rõ của một nhóm khách hàng có khả năng chi trả cao, không chỉ tìm kiếm bất động sản có vị trí tốt mà còn quan tâm đến chất lượng không gian sống, dịch vụ và tiêu chuẩn vận hành.

Dòng nước trong, in bóng những công trình hiện đại của TP Hồ Chí Minh trên kênh Tàu Hủ-Bến Nghé nhìn từ cầu Calmette. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)
Sự thay đổi về lực cầu đang kéo theo thay đổi trong cấu trúc nguồn cung. Bất động sản hàng hiệu trước đây thường được biết đến qua các dự án nghỉ dưỡng gắn với thương hiệu khách sạn quốc tế, nhưng hiện mô hình này đang mở rộng sang nhà ở tại các đô thị lớn. Trong đó, TP Hồ Chí Minh là trường hợp đáng chú ý.
Theo Savills, số lượng dự án Branded Residences độc lập trong danh mục dự kiến phát triển tại thành phố này đến năm 2032 được dự báo tăng gấp đôi. Xu hướng này trái với diễn biến chung của châu Á-Thái Bình Dương. Tỷ trọng Branded Residences độc lập trong nguồn cung đã hoàn thiện hiện khoảng 30%, nhưng giảm còn 16% trong nguồn cung tương lai.
Bà Đỗ Thị Hương-Giám đốc Bộ phận Kinh doanh Nhà ở Savills Việt Nam cho biết, thị trường Việt Nam đang đa dạng hơn cả về loại hình lẫn địa bàn phát triển. Tại TP Hồ Chí Minh, các dự án nhà ở hàng hiệu đang xuất hiện tại những khu vực trung tâm như Tôn Đức Thắng và Phạm Ngũ Lão. Trong khi đó, mô hình này cũng mở rộng ra ngoài Hà Nội và TP Hồ Chí Minh với các dự án tại Đà Nẵng, Phú Yên.
Theo bà Hương, sự mở rộng phản ánh nhu cầu ngày càng đa dạng của nhóm khách hàng có giá trị tài sản cao. Tại các đô thị lớn, khách hàng tìm kiếm sản phẩm vừa có vị trí trung tâm, vừa được hưởng các tiêu chuẩn dịch vụ và vận hành gắn với thương hiệu quốc tế. Điều này khiến Branded Residences có thêm hướng phát triển mới: từ sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng sang một loại hình nhà ở dành cho người có khả năng chi trả cao tại các đô thị.
TP Hồ Chí Minh có lợi thế rõ ở hướng đi này khi quỹ đất trung tâm hạn chế, trong khi nhu cầu về chất lượng sống và dịch vụ ngày càng tăng. Với nhóm khách hàng giàu tiềm lực tài chính thì dịch vụ quản lý chuyên nghiệp, không gian riêng tư, tiêu chuẩn vận hành và trải nghiệm sống có thể trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định mua nhà.
Ở các thị trường ven biển, sản phẩm được ưu tiên là có thể kết hợp nhu cầu nghỉ dưỡng, trải nghiệm và sở hữu tài sản dài hạn. Sự hiện diện của các dự án tại nhiều địa phương cho thấy thị trường đang mở rộng không chỉ về số lượng mà cả phạm vi khách hàng và công năng sử dụng. Đô thị lớn thì hướng tới nhu cầu ở và sở hữu tài sản cao cấp, trong khi các điểm đến du lịch có thêm dư địa từ nhu cầu nghỉ dưỡng.
Điểm chung lớn nhất là người mua ngày càng quan tâm đến giá trị sử dụng và trải nghiệm thay vì chỉ nhìn vào bất động sản như một tài sản để tích lũy.
Thương hiệu phải tạo ra giá trị thực
Khi nhóm khách hàng trong nước có khả năng chi trả cao hơn, yêu cầu đối với sản phẩm cũng tăng lên. Đây là cơ sở để thương hiệu trở thành một thành tố trong giá trị của bất động sản.
Theo Savills, Brand Premium (mức chênh lệch giá) của bất động sản có thương hiệu so với sản phẩm tương đương không có thương hiệu-tại châu Á-Thái Bình Dương đã tăng từ 23% lên 29% trong 12 tháng qua.
Mức chênh này phản ánh giá trị mà thương hiệu có thể mang lại, từ thiết kế, chất lượng dịch vụ, tiêu chuẩn vận hành đến trải nghiệm cư dân và mức độ nhận diện.
Trong phân khúc cao cấp, khi giá trị tài sản vốn đã lớn, việc người mua chấp nhận trả thêm cho dịch vụ và trải nghiệm cho thấy tiêu chí lựa chọn đang thay đổi. Một bất động sản không chỉ được đánh giá bằng vị trí, diện tích hay thiết kế, mà còn bằng chất lượng quản lý và khả năng duy trì tiêu chuẩn dịch vụ trong thời gian dài.

(Ảnh minh họa)
Không chỉ thương hiệu quốc tế hưởng lợi từ xu hướng này. Savills cho biết các thương hiệu có nguồn gốc châu Á cũng ngày càng có vị thế nhờ lợi thế am hiểu thị trường, văn hóa và hành vi người tiêu dùng. Hiện 5 trong 10 thương hiệu khách sạn dẫn đầu khu vực là thương hiệu có nguồn gốc từ châu Á.
Louis Keighley-Giám đốc Bộ phận Tư vấn phát triển nhà ở toàn cầu của Savills cho rằng, châu Á-Thái Bình Dương vẫn là động lực tăng trưởng quan trọng của bất động sản hàng hiệu, nhưng giai đoạn tiếp theo sẽ được định hình nhiều hơn bởi chiều sâu của từng thị trường nội địa, thay vì chỉ dựa vào quy mô.
Với Việt Nam, sự gia tăng tài sản trong nước đang tạo ra một nhóm khách hàng có khả năng tiếp cận những sản phẩm bất động sản cao cấp hơn. Đây cũng là nền tảng giúp phân khúc Branded Residences mở rộng từ một sản phẩm gắn với khách quốc tế và bất động sản nghỉ dưỡng sang thị trường nhà ở tại các đô thị.
Con số nguồn cung dự kiến tăng thêm 152% đến năm 2032 vì vậy không chỉ phản ánh số lượng dự án mới. Đằng sau đó là sự thay đổi của lực cầu, khi người mua trong nước ngày càng có khả năng và sẵn sàng chi trả cho những tiêu chuẩn cao hơn về vị trí, thiết kế, dịch vụ và vận hành.
Tuy nhiên, quy mô nguồn cung tăng nhanh cũng đặt ra yêu cầu cao hơn với các chủ đầu tư. Khi người mua trả thêm cho thương hiệu, giá trị thực của sản phẩm sẽ phụ thuộc vào việc tiêu chuẩn dịch vụ có được duy trì trong suốt vòng đời dự án hay không.
Thị trường bất động sản hàng hiệu vì vậy có thể tiếp tục mở rộng tại Việt Nam, nhưng cuộc cạnh tranh sẽ không chỉ nằm ở số lượng thương hiệu hay dự án.
Khả năng biến thương hiệu thành chất lượng sống thực tế, đáp ứng đúng nhu cầu của nhóm khách hàng giàu có và duy trì giá trị tài sản dài hạn mới là yếu tố quyết định sức bền của phân khúc này./.



