Thiết lập khuôn khổ thuế với tài sản mã hóa: Phân biệt rõ giữa đầu tư và hoạt động kinh doanh

Bộ Tài chính đang xây dựng Dự thảo Thông tư về chính sách thuế đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa (Dự thảo). Theo các chuyên gia, đây là bước đi tất yếu để minh bạch hóa thị trường tài chính số. Để chính sách vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, điểm then chốt là cần phân biệt rõ giữa đầu tư và hoạt động kinh doanh tài sản mã hóa.

Bước đi cần thiết để minh bạch hóa thị trường

Theo Dự thảo, hoạt động chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (VAT). Về thuế thu nhập doanh nghiệp, các tổ chức trong nước và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có thu nhập từ hoạt động này phải kê khai, nộp thuế theo thuế suất 20%. Đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài chuyển nhượng qua các tổ chức cung cấp dịch vụ tại Việt Nam, mức thuế áp dụng là 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần.

Hình ảnh minh họa đồng tiền điện tử Bitcoin

Hình ảnh minh họa đồng tiền điện tử Bitcoin

Đáng chú ý, đối với cá nhân (không phân biệt cư trú hay không cư trú), Dự thảo đề xuất áp dụng mức thuế thu nhập cá nhân là 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng từng lần khi giao dịch qua nền tảng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Thời điểm xác định thu nhập được thực hiện tương tự như quy định đối với chuyển nhượng chứng khoán hiện hành.

Góp ý vào Dự thảo, Giám đốc Công ty TNHH Tài chính kế toán thuế Centax Bùi Thị Lệ Phương cho rằng, đây là bước đi cần thiết và phù hợp với xu hướng quản lý tài sản số trên toàn cầu. Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết 05/2025/NQ-CP, việc thiết lập khuôn khổ thuế ngay từ giai đoạn đầu sẽ giúp tăng tính minh bạch, hạn chế rủi ro rửa tiền, đồng thời tạo nền tảng để phát triển thị trường tài chính số.

Tuy nhiên, để chính sách thuế vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, Dự thảo cần hoàn thiện theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế.

Phân tích cụ thể, bà Phương cho rằng, việc miễn thuế VAT đối với hoạt động chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa là một cách tiếp cận đúng đắn, bởi thực tiễn tại Liên minh châu Âu (EU) hay Singapore đều coi đây là dịch vụ tài chính. “Bản chất tài sản mã hóa mang tính chất tương tự công cụ tài chính, nếu áp VAT có thể dẫn đến đánh thuế chồng nhiều lần và làm giảm tính thanh khoản thị trường”, bà Phương nhìn nhận.

Dù ủng hộ khung thuế suất nhưng bà Bùi Thị Lệ Phương bày tỏ băn khoăn về tính khả thi trong thực tiễn. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 20% trên lợi nhuận), thách thức nằm ở việc xác định chi phí. Đặc thù của tài sản mã hóa là giao dịch diễn ra trên nhiều sàn, phát sinh các loại phí đặc thù như gas fee, phí ví điện tử, hoặc thu nhập từ các hoạt động như staking (đặt cược), mining (khai thác), airdrop (nhận token miễn phí). “Nếu không có hướng dẫn chi tiết về phương pháp xác định chi phí hợp lệ, sẽ dễ phát sinh tranh chấp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế”, bà Phương cảnh báo.

Tương tự, với mức thuế 0,1% trên doanh thu chuyển nhượng đối với cá nhân, bà Phương nhận định ưu điểm là đơn giản trong quản lý, giảm chi phí tuân thủ và phù hợp trong giai đoạn thị trường mới hình thành. Tuy nhiên, nhược điểm lớn là không phản ánh đúng bản chất thu nhập thực tế. Nhà đầu tư có thể thua lỗ nhưng vẫn phải nộp thuế. Do đó, về lâu dài, khi thị trường ổn định, cần chuyển sang cơ chế đánh thuế trên lợi nhuận ròng.

Một "điểm mờ" khác trong Dự thảo là việc chưa định nghĩa và phân loại rõ ràng các loại tài sản mã hóa. Thực tế, thế giới chia tài sản số thành nhiều loại như: token thanh toán, token tiện ích, token chứng khoán, hay NFT (tài sản không thể thay thế). Mỗi loại có bản chất kinh tế khác nhau. Do đó, cần xây dựng hệ thống phân loại tài sản mã hóa theo bản chất kinh tế, tương tự cách tiếp cận của EU và OECD. Việc chưa phân loại rõ sẽ dẫn đến khó khăn trong xác định nghĩa vụ thuế, đặc biệt đối với thời điểm phát sinh thu nhập và giá tính thuế".

Xây dựng cơ chế bắt buộc cung cấp dữ liệu cho cơ quan thuế

Để hoàn thiện Dự thảo, bà Phương đề xuất cần tập trung quy định rõ phương pháp xác định thu nhập chịu thuế. Do giá biến động mạnh, giao dịch xuyên biên giới và có thể hoán đổi giữa nhiều loại tài sản số, Việt Nam nên quy định cho phép người nộp thuế lựa chọn phương pháp xác định giá vốn phù hợp nhưng phải đăng ký ổn định.

Cùng với đó, cần phân biệt rõ giữa đầu tư và hoạt động kinh doanh tài sản mã hóa. Đây là điểm then chốt trong thiết kế chính sách thuế. Nếu không phân biệt sẽ dẫn tới áp dụng thuế không phù hợp với bản chất giao dịch, gây khó khăn trong quản lý và kê khai. Theo đó, đối với cá nhân đầu tư nên áp dụng cơ chế tương tự chuyển nhượng tài sản; đối với doanh nghiệp kinh doanh hoặc môi giới crypto nên áp dụng thuế như hoạt động kinh doanh tài chính.

Dự thảo cũng cần lấp đầy khoảng trống pháp lý cho các hoạt động mới. Theo đó, cần làm rõ nghĩa vụ thuế đối với các hoạt động mới như đặt cọc, cho vay tiền điện tử, phát hành... thay vì chỉ tập trung vào chuyển nhượng đơn thuần.

Một điểm then chốt mà Giám đốc Công ty TNHH Tài chính kế toán thuế Centax nhấn mạnh là việc quản lý thuế đối với tài sản mã hóa không thể tách rời sự hỗ trợ của công nghệ; bà Phương kiến nghị cần xây dựng cơ chế bắt buộc các sàn giao dịch cung cấp dữ liệu cho cơ quan thuế và kết nối với hệ thống phòng chống rửa tiền.

Việc thu thuế thông qua các nền tảng giao dịch (khấu trừ tại nguồn) sẽ giúp giảm thất thu và giảm chi phí quản lý, tăng tính minh bạch. Đồng thời, chính sách thuế cần được thiết kế theo lộ trình linh hoạt, có thể kết hợp cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới để không làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam trong lĩnh vực Fintech, đồng thời không đẩy giao dịch sang thị trường phi chính thức.

Tựu trung, bà Bùi Thị Lệ Phương cho rằng chính sách thuế đối với tài sản mã hóa nên dựa trên các nguyên tắc: ưu tiên minh bạch thay vì tối đa hóa thu ngân sách trong giai đoạn đầu; đơn giản hóa thủ tục; xây dựng định nghĩa pháp lý thống nhất về tài sản mã hóa; xây dựng cơ chế xác định thu nhập và giá tính thuế minh bạch; tăng cường quản lý thông qua hệ thống dữ liệu giao dịch; phân loại đối tượng nộp thuế theo bản chất hoạt động, đặc biệt là phải bảo đảm cân bằng giữa quản lý và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

"Dự thảo Thông tư là bước tiến quan trọng. Nếu được hoàn thiện theo hướng bổ sung hướng dẫn chi tiết về phân loại tài sản, xác định giá vốn, quản lý giao dịch xuyên biên giới và cơ chế thu thuế thông qua sàn giao dịch, Việt Nam có thể vừa kiểm soát rủi ro tài chính, vừa tận dụng cơ hội phát triển ngành công nghiệp tài sản số đang tăng trưởng mạnh trên toàn cầu", bà Phương khẳng định.

Kinh nghiệm quốc tế trong việc áp thuế với tài sản mã hóa

Hoa Kỳ: coi tài sản mã hóa là tài sản đầu tư; đánh thuế trên lợi nhuận vốn; yêu cầu báo cáo chi tiết từng giao dịch.

Singapore: không đánh thuế giao dịch đầu tư cá nhân; đánh thuế nếu hoạt động mang tính kinh doanh.

Hàn Quốc: đánh thuế thu nhập từ crypto nhưng cho phép khấu trừ chi phí; áp dụng ngưỡng miễn thuế nhất định.

EU: miễn VAT đối với giao dịch crypto; tăng cường nghĩa vụ báo cáo của sàn giao dịch.

Giám đốc Công ty TNHH Tài chính kế toán thuế Centax
Bùi Thị Lệ Phương

Đan Thanh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/thiet-lap-khuon-kho-thue-voi-tai-san-ma-hoa-phan-biet-ro-giua-dau-tu-va-hoat-dong-kinh-doanh-10406744.html