Thu hẹp khoảng cách từ chính sách đến việc làm cho lao động nông thôn
Để giảm việc làm phi chính thức, giúp người dân có thu nhập ổn định, Tuyên Quang triển khai nhiều hoạt động thiết thực.

Lao động nông thôn được tiếp cận cơ hội việc làm ngay tại quê hương.
Mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm
Ở khu vực nông thôn, nhất là những địa bàn miền núi, biên giới, việc làm của người dân vẫn gắn nhiều với sản xuất nông, lâm nghiệp, lao động thời vụ và tự tạo việc làm quy mô nhỏ.
Những công việc này giúp duy trì sinh kế nhưng thường chịu tác động của thời tiết, giá cả thị trường, đầu ra nông sản và khả năng tiếp cận vốn. Khi thu nhập thiếu ổn định, người lao động cũng dễ gặp khó khăn trong việc tham gia các cơ chế bảo hiểm và bảo đảm an sinh.

Việc làm là giải pháp quan trọng để giảm nghèo tại Tuyên Quang.
Thực tế tại Tuyên Quang cho thấy, giải quyết việc làm đang được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững. Năm 2025, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức hơn 10 hội chợ, phiên giao dịch việc làm tại các địa bàn như Sủng Máng, Khâu Vai, Tát Ngà, Vị Xuyên và Hoàng Su Phì. Các hoạt động này thu hút hơn 60.000 lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm, tư vấn học nghề và định hướng nghề nghiệp. Sau tư vấn, hơn 220 lao động đi làm việc theo hợp đồng tại nước ngoài; hơn 1.500 lao động có việc làm ổn định tại các doanh nghiệp trong nước.
Tại xã Yên Sơn, một phiên giao dịch việc làm có sự tham gia của 15 đơn vị, gồm doanh nghiệp, trường đại học, cao đẳng, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đơn vị xuất khẩu lao động, đã thu hút gần 1.000 học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên và người lao động. Các đơn vị cung cấp thông tin tuyển dụng trong lĩnh vực sản xuất gỗ, may mặc, giày da, xây dựng, đồng thời tư vấn học nghề và các cơ hội làm việc phù hợp.
Ông Vương Minh Thống, Phó Chủ tịch UBND xã Yên Sơn, cho biết địa phương xác định mở rộng cơ hội việc làm là giải pháp quan trọng để nâng cao thu nhập, thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Vì vậy, xã đã phối hợp với Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh tổ chức phiên giao dịch nhằm kết nối doanh nghiệp với người lao động.
Những kết quả trên cho thấy vai trò của hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm trong việc đưa thông tin tuyển dụng đến gần hơn với người dân. Thay vì tự tìm kiếm cơ hội qua những kênh thiếu kiểm chứng, người lao động có điều kiện tiếp cận trực tiếp doanh nghiệp, tìm hiểu yêu cầu tuyển dụng và lựa chọn hướng đi phù hợp với năng lực.
Tuy nhiên, số lượt được tư vấn không đồng nghĩa với số người có việc làm lâu dài. Khoảng cách từ tiếp cận chính sách đến việc làm bền vững vẫn cần được nhìn nhận qua khả năng duy trì công việc, mức thu nhập, điều kiện lao động và các quyền lợi mà người lao động được hưởng.
Từ hỗ trợ học nghề đến sinh kế bền vững
Một trong những hướng đi đáng chú ý của Tuyên Quang là đổi mới đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường lao động. Theo kế hoạch tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tuyển sinh trình độ cao đẳng, trung cấp cho 2.095 người; đồng thời đào tạo sơ cấp và dưới 3 tháng cho 8.711 lao động nông thôn theo phương thức đặt hàng.

Người dân được hướng tới phát triển sinh kế bền vững.
Các ngành nghề được lựa chọn gắn với nhu cầu tuyển dụng và tiềm năng kinh tế địa phương, từ công nghiệp chế biến, điện, xây dựng, du lịch, dịch vụ đến nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tỉnh phấn đấu tỷ lệ người lao động sau đào tạo có việc làm hoặc tự tạo việc làm đạt trên 85%.
Đây là định hướng cần thiết, bởi đào tạo nghề chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người học có thể vận dụng kiến thức để nâng cao năng suất, chuyển đổi công việc hoặc phát triển sinh kế. Với lao động nông thôn, nhất là người thuộc hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, việc tham gia một khóa học đôi khi còn phụ thuộc vào thời gian sản xuất, chi phí đi lại và khả năng duy trì thu nhập trong thời gian học.
Vì vậy, tổ chức đào tạo ngay tại địa bàn dân cư, tăng thời lượng thực hành, hỗ trợ tiếp cận vốn và kết nối đầu ra sản phẩm là những giải pháp có ý nghĩa thiết thực. Người học nghề trồng trọt, chăn nuôi cần được hướng dẫn quy trình sản xuất, phòng trừ dịch bệnh và tìm kiếm thị trường; người học nghề du lịch cộng đồng cần được trang bị kỹ năng phục vụ, giao tiếp và quảng bá sản phẩm; người muốn chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp cần được chuẩn bị tác phong công nghiệp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
Tại xã Sơn Vĩ, việc mở rộng cơ hội việc làm được gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững. Theo kế hoạch năm 2026, xã dự kiến phối hợp tổ chức các phiên giao dịch việc làm, hội nghị tư vấn và tuyên truyền về việc làm, học nghề tại 51/51 thôn. Địa phương đặt mục tiêu tư vấn, giới thiệu việc làm cho hơn 400 lượt lao động, phấn đấu khoảng 355 lao động tìm được việc làm ổn định, ưu tiên người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo.
Ông Sùng Mí Nô, Chủ tịch UBND xã Sơn Vĩ, cho biết địa phương đã chỉ đạo các ngành và các thôn đẩy mạnh tuyên truyền để người dân nắm rõ thời gian, địa điểm tổ chức phiên giao dịch, đồng thời chủ động đăng ký nhu cầu tìm việc làm, học nghề phù hợp với điều kiện và sức khỏe.
Từ thực tiễn này, yêu cầu đặt ra là chính sách cần đến đúng người, đúng nhu cầu và tạo được chuyển biến rõ rệt sau hỗ trợ. Với nhóm lao động làm việc tự do, buôn bán nhỏ, sản xuất hộ gia đình hoặc làm thuê theo mùa vụ, cần tăng cường phổ biến kiến thức pháp luật lao động, thông tin về bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế và các hình thức bảo vệ quyền lợi phù hợp.
Việc chuyển dịch sang việc làm chính thức không thể chỉ dựa vào vận động người dân, mà còn cần mở rộng cơ hội tuyển dụng, cải thiện chất lượng việc làm và giảm những rào cản khiến doanh nghiệp khó tiếp nhận lao động tại chỗ.
Từ mục tiêu đào tạo hơn 8.700 lao động nông thôn trong năm 2026 đến yêu cầu giảm nghèo bền vững, Tuyên Quang đang có cơ sở để tiếp tục đổi mới chính sách việc làm theo hướng thực chất. Khi người lao động không chỉ được tiếp cận thông tin, được học nghề mà còn có công việc ổn định, thu nhập đủ trang trải cuộc sống và được bảo đảm quyền lợi, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn mới từng bước được thu hẹp. Đó cũng là nền tảng để giảm dần sự phụ thuộc vào việc làm bấp bênh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn.

