Thu hút chất xám bằng ưu đãi thuế: Cần thêm 'đòn bẩy' cho nhân lực khoa học công nghệ
Việc Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1-7 tới bổ sung quy định miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với nhân lực công nghệ cao được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là lần đầu tiên ưu đãi thuế được thiết kế theo hướng 'đánh trúng' vào lực lượng nhân lực khoa học công nghệ – nhóm đang được coi là yếu tố quyết định trong cuộc đua đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức.
Tăng thu nhập thực nhằm trọng dụng nhân tài
Anh Nguyễn Trọng Nam, chuyên viên lập trình cho một công ty công nghệ ở Hà Nội có mức lương khoảng 50 triệu đồng/tháng. Nếu theo các quy định về thuế hiện hành, số thuế mà anh Nam thu nhập cá nhân mà anh Nam phải đóng là 5,7 triệu đồng mỗi tháng. Điều này đồng nghĩa với việc hơn 11% thu nhập của người này bắt buộc phải chi trả cho thuế.
Ví dụ trên đang là nghịch lý của Việt Nam khi một mặt xác định phát triển khoa học công nghệ là cốt lõi của nền kinh tế nhưng mặt khác lại có cơ chế đãi ngộ dành cho nguồn chất lượng cao như các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ vẫn chưa thực sự tương xứng với yêu cầu cạnh tranh nhân lực toàn cầu. Đơn cử như với một lập trình viên ở Singapore có mức thu nhập tương đương anh Nam, thì số thuế phải đóng chỉ vào khoảng 2% tổng thu nhập.

Thu nhập hấp dẫn là một trong những yếu tố hàng đầu để thu hút nhân tài
Tuy nhiên, với việc Luật Thuế thu nhập cá (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/7 tới, các ưu đãi về thuế dành cho nhân lực chất lượng cao sẽ có thay đổi đáng kể. Cụ thể, quy định pháp luật mới sẽ có cơ chế miễn thuế 5 năm cho nhóm nhân lực công nghệ cao. Như trường hợp của anh Nam nói trên, nếu được xếp vào diện miễn thuế thu nhập cá nhân thì mỗi tháng số tiền thực lĩnh sẽ cao hơn đáng kể.
Như vậy, chính sách mới sẽ trực tiếp tăng thu nhập thực nhận của nhân sự lao động trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Với những chuyên gia có mức thu nhập cao, đặc biệt ở các lĩnh vực như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn hay công nghệ chiến lược, khoản miễn thuế này có thể giúp gia tăng đáng kể thu nhập sau thuế, qua đó cải thiện sức hấp dẫn của môi trường làm việc trong nước.
Không chỉ là lợi ích tài chính trực tiếp, Luật mới còn mang ý nghĩa như một tín hiệu chính sách, qua đó khẳng định Nhà nước sẽ sử dụng công cụ thuế thu nhập cá nhân như một đòn bẩy để thu hút chất xám, thay vì chỉ dừng ở ưu đãi cho doanh nghiệp. Điều đó thể hiện sự thay đối của Việt Nam về việc cạnh tranh công nghệ không chỉ là cạnh tranh về vốn hay hạ tầng, mà trước hết là cạnh tranh về con người.
Nói về điều này, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực toàn cầu ngày càng gay gắt, ưu đãi thuế là một trong những công cụ hiệu quả để nâng sức hấp dẫn của thị trường lao động chất lượng cao. Nhà đầu tư hay chuyên gia quốc tế thường nhìn vào tổng thu nhập thực nhận chứ không chỉ mức lương danh nghĩa. Quan điểm này cũng phù hợp với xu hướng nhiều quốc gia sử dụng chính sách thuế để hút nhân tài trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ở khía cạnh rộng hơn, ưu đãi thuế cho nhân lực khoa học công nghệ còn có tác động lan tỏa tới doanh nghiệp. Khi chi phí giữ chân chuyên gia được giảm bớt thông qua công cụ thuế, doanh nghiệp công nghệ trong nước sẽ có thêm điều kiện cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài trong việc tuyển dụng, nhất là ở những lĩnh vực mà nguồn nhân lực khan hiếm. Đây cũng là yếu tố có thể góp phần hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám” – vấn đề đã được nhắc đến nhiều năm nhưng chưa có lời giải đủ mạnh, ông Nguyễn Trí Hiếu chia sẻ.
Hướng tới đãi ngộ cạnh tranh
Dù được đánh giá là bước tiến tích cực, nhưng vẫn có nhiều ý kiến cho rằng chính sách về thuế hiện nay mới chỉ là khởi đầu, chưa phải một cơ chế toàn diện đủ sức cạnh tranh với các mô hình ưu đãi nhân tài của nhiều quốc gia trong khu vực như Singapore hay Hàn Quốc.
Theo Viện trưởng Viện Phát triển Doanh nghiệp và Chính sách Đinh Văn Hoàng, Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) sắp có hiệu lực đang quy định phạm vi nhân lực công nghệ được hưởng ưu đãi thuế còn khá hẹp. Cụ thể, chỉ đối tượng là “nhân lực chất lượng cao” trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược mới được miễn thuế. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là “nhân lực chất lượng cao”, tiêu chí đánh giá ra sao, cơ chế chứng nhận như thế nào… vẫn chưa có và còn cần các văn bản hướng dẫn dưới luật.
Đối với việc xác định “nhân lực chất lượng cao” cần tránh các quy định quá chặt chẽ về mặt thủ tục cũng như phải tạo được dư địa cho việc xác định nhân lực dạng này đối với các lĩnh vực công nghệ sẽ xuất hiện trong tương lai. Phạm vi không chỉ bó hẹp ở một số nhóm nghiên cứu trực tiếp mà có thể tính tới lực lượng kỹ sư lõi, chuyên gia thiết kế, chuyên gia vận hành công nghệ chiến lược – những vị trí then chốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là khâu rất quan trọng nếu không sẽ dễ dẫn tới tình trạng đúng về chủ trương nhưng khó đi vào thực tế.
Cũng theo ông Đinh Văn Hoàng, quãng thời gian ưu đãi 5 năm có thể chưa đủ hấp dẫn. Với các chuyên gia cấp cao, đặc biệt là chuyên gia quốc tế hoặc người Việt Nam ở nước ngoài trở về nước làm việc thì điều họ cần không chỉ là thu nhập mà còn là ở sự ổn định và dài hạn. Do đó cần có cơ chế giảm thuế theo lộ trình dài hạn. Thay vì kết thúc hoàn toàn sau 5 năm. Có thể áp dụng mô hình miễn 5 năm đầu, giảm 50% trong giai đoạn tiếp theo. Đây cũng là cách mà nhiều nước đang áp dụng để giữ chân nhân lực công nghệ cao.
Ngoài ra, bên cạnh thuế, nhiều quốc gia trên thế giới cũng tung ra các ưu đãi đi kèm như nhà ở, giáo dục, bảo hiểm, cư trú… để tạo thành “khoản thu hút nhân tài” trọn gói. Trong khi đó, ở Việt Nam, ưu đãi hiện mới tập trung vào một khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công. Do đó, dài hạn Việt Nam cần phải hướng tới xây dựng một hệ sinh thái đãi ngộ đủ sức cạnh tranh trong cuộc đua nhân tài toàn cầu, Viện trưởng Đinh Văn Hoàng chia sẻ.











