Thu hút đầu tư: Ưu đãi có chọn lọc, ngăn đầu tư núp bóng
Ưu đãi đúng dự án, kiểm chứng giá trị lan tỏa và minh bạch chủ thể đầu tư là những yêu cầu được đại biểu Quốc hội đặt ra khi sửa Luật Đầu tư, nhằm nâng chất lượng dòng vốn và ngăn việc lợi dụng hoạt động đầu tư để vi phạm pháp luật.

Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc – Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng. Ảnh: Media Quốc hội.
Sáng 2/11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Ưu đãi có chọn lọc, giám sát chặt ngay từ đầu
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc – Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng cơ bản thống nhất với định hướng sửa đổi luật, nhất là hoàn thiện cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt để thu hút dự án có tác động lan tỏa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Về phạm vi hưởng ưu đãi, đại biểu đề nghị làm rõ cách áp dụng đối với dự án mở rộng. Theo đó, chính sách chỉ nên dành cho phần đầu tư mở rộng đáp ứng điều kiện, tránh để phần dự án đã triển khai trước đó được hưởng ưu đãi trên toàn bộ quy mô. Việc phân định này nhằm bảo đảm hỗ trợ đúng mục tiêu, tránh phát sinh ưu đãi không cần thiết.
Đại biểu cũng đề nghị xem xét việc sửa Luật Đầu tư trong tổng thể rà soát, hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh và các lĩnh vực liên quan. Cần đánh giá đầy đủ quan hệ giữa Luật Đầu tư với luật chuyên ngành, bảo đảm tính đồng bộ, ổn định, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư.
Một vấn đề được đại biểu lưu ý là năng lực thẩm định và giám sát. Xác định nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, công nghệ và khả năng thực hiện cam kết không phải việc đơn giản, nhất là khi năng lực quản lý tại một số địa phương còn hạn chế.
Dù dự thảo đã đặt ra nguyên tắc thu hồi, hủy bỏ hoặc điều chỉnh ưu đãi khi vi phạm, đại biểu cho rằng vẫn cần cơ chế giám sát thực chất từ đầu. Nếu khâu thẩm định, theo dõi và xử lý thiếu chặt chẽ, việc xử lý dự án không đáp ứng cam kết có thể gặp khó khăn, tiềm ẩn tranh chấp, khiếu kiện quốc tế.
Từ đó, đại biểu đề nghị cân nhắc cơ chế giám sát, đánh giá ở Trung ương hoặc giao cơ quan Trung ương trực tiếp thẩm định, theo dõi và kết luận việc đáp ứng tiêu chí hưởng ưu đãi đặc biệt. Chính sách cần tập trung vào dự án thực sự đáp ứng mục tiêu phát triển, tránh phân tán, thiếu kiểm soát tại địa phương.

Đại biểu Nguyễn Văn Huy – Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Media Quốc hội.
Đo hiệu quả dự án bằng công nghệ và năng lực doanh nghiệp trong nước
Đại biểu Nguyễn Văn Huy – Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên thống nhất với định hướng nâng chất lượng thu hút đầu tư, bảo đảm hiệu quả chính sách ưu đãi và tăng liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Về thực hiện cam kết, đại biểu tán thành nguyên tắc tại khoản 4 Điều 17: ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt phải căn cứ kết quả chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và nâng giá trị gia tăng nội địa.
Tuy nhiên, dự thảo cần xác định rõ mức độ hoàn thành được coi là đạt yêu cầu, cách xử lý khi chỉ thực hiện một phần và phạm vi thu hồi ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ chưa hoàn thành.
Đại biểu nêu tình huống dự án công nghệ cao đạt mục tiêu giải ngân, sản lượng nhưng không đáp ứng cam kết đào tạo, chuyển giao công nghệ hoặc phát triển nhà cung cấp trong nước. Nếu chỉ dựa vào vốn và sản lượng, dự án vẫn có thể được đánh giá thành công, dù lợi ích lan tỏa chưa đạt yêu cầu.
Vì vậy, cần đánh giá từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý; giao Chính phủ quy định điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp mức độ vi phạm, vừa ràng buộc trách nhiệm, vừa tránh xử lý cứng nhắc.
Về hiệu quả dự án, đại biểu lưu ý hai dự án cùng quy mô vốn có thể đóng góp khác nhau: một dự án chủ yếu gia công, nhập linh kiện; dự án khác nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, sử dụng nhà cung cấp Việt Nam. Chỉ nhìn vốn đăng ký và kim ngạch xuất khẩu sẽ khó phản ánh đầy đủ khác biệt đó.
Đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành bộ tiêu chí theo ngành, lĩnh vực, chú trọng giá trị gia tăng trong nước, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, nhân lực, liên kết doanh nghiệp và sử dụng tài nguyên. Kết quả đánh giá là căn cứ tiếp tục áp dụng hoặc điều chỉnh ưu đãi.
Về liên kết doanh nghiệp, đại biểu ghi nhận việc khuyến khích doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, cần làm rõ trách nhiệm kết nối, nâng năng lực nhà cung cấp và đánh giá kết quả sau khi dự án hoạt động.
Thực tế có thể xảy ra tình trạng doanh nghiệp Việt có năng lực sản xuất nhưng thiếu thông tin về tiêu chuẩn, kiểm định hoặc kế hoạch lựa chọn nhà cung cấp, trong khi doanh nghiệp FDI tiếp tục nhập nguyên liệu, linh kiện. Khi đó, vốn và xuất khẩu tăng nhưng liên kết trong nước vẫn hạn chế.
Đại biểu đề nghị có cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan quản lý ngành, địa phương và tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp để kết nối nhu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi với nhà cung cấp nội địa; xác định kết quả liên kết thành chỉ tiêu kiểm chứng được.
Trong đó, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng chất lượng sản phẩm, quản trị, công nghệ và khả năng đáp ứng đơn hàng. Cơ hội tham gia phải minh bạch, bình đẳng, không tạo nghĩa vụ mua hàng nội địa trái cam kết quốc tế.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên – Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Media Quốc hội.
Minh bạch chủ sở hữu, ngăn đầu tư núp bóng từ đầu
Góp ý dự thảo, đại biểu Nguyễn Trung Kiên – Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai đề nghị bổ sung cơ chế phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn đầu tư núp bóng, đầu tư chui, lợi dụng hoạt động đầu tư để vi phạm pháp luật, xâm phạm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.
Cùng với phòng ngừa vi phạm, đại biểu kiến nghị bổ sung ưu đãi cho công nghiệp quốc phòng, an ninh, công nghiệp lưỡng dụng, công nghệ lõi và công nghệ chiến lược; hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, đổi mới thiết bị, phát triển chuỗi cung ứng. Các dự án có quy mô, tính chất chiến lược trong những lĩnh vực này cần được nghiên cứu đưa vào diện xem xét ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt.
Đại biểu phân tích, hoạt động đầu tư có thể bị lợi dụng để che giấu người thực sự kiểm soát doanh nghiệp, hợp thức hóa dòng tiền bất hợp pháp, thâu tóm tài sản và quyền kiểm soát tại địa bàn nhạy cảm. Các phương thức được đại biểu chỉ ra gồm nhờ người Việt Nam đứng tên thành lập doanh nghiệp, góp vốn hoặc mua cổ phần; lập nhiều tầng doanh nghiệp trung gian; chia nhỏ tỷ lệ sở hữu để tránh thẩm tra; luân chuyển vốn qua nhiều tổ chức, cá nhân nhằm che giấu nguồn gốc tài sản.
"Việc lợi dụng đầu tư không chỉ nhằm né tránh điều kiện đầu tư mà còn có thể phục vụ rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và kinh doanh hàng giả, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, chuyển giao công nghệ trái phép hoặc thu thập thông tin, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội," đại biểu nêu.
Theo đại biểu, dự thảo đã có quy định đình chỉ, ngừng, chấm dứt hoạt động gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến quốc phòng, an ninh; điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần và yêu cầu chấp thuận chủ trương đầu tư tại khu vực nhạy cảm.
Tuy nhiên, vẫn cần cơ chế phòng ngừa chủ động xuyên suốt từ đăng ký, góp vốn, chuyển nhượng đến thực hiện dự án.
Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc minh bạch về chủ thể đầu tư, chủ sở hữu hưởng lợi, nguồn vốn và mục đích đầu tư; không cho phép lợi dụng đầu tư để che giấu người kiểm soát thực tế hoặc hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có.
Với góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, cần quy định cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu nhà đầu tư cung cấp thông tin, phục vụ xác minh về chủ sở hữu hưởng lợi, người kiểm soát, nguồn gốc vốn và bên liên quan khi cần thiết, nhất là ở lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm. Cơ chế kiểm soát phải bao quát cả việc đứng tên hộ, ủy quyền và nhiều tầng trung gian.
Đại biểu cũng đề nghị tăng phối hợp giữa cơ quan đăng ký đầu tư, thuế, hải quan và cơ quan liên quan để nhận diện bất thường về chủ thể, dòng tiền, mục đích đầu tư. Dự án, giao dịch có dấu hiệu rửa tiền, buôn lậu, lừa đảo hoặc xâm phạm an ninh cần được chuyển thông tin, xác minh và áp dụng biện pháp ngăn chặn đúng thẩm quyền, trình tự.
Việc giám sát phải tiếp tục trong quá trình thực hiện dự án. Khi có thay đổi quan trọng về chủ sở hữu hưởng lợi, chủ thể góp vốn, người kiểm soát thực tế, nguồn vốn hoặc mục tiêu dự án, nhà đầu tư phải kê khai, cập nhật thông tin.
Đồng thời, cần xử lý nghiêm hành vi cố ý che giấu, cung cấp thông tin sai lệch, đứng tên hộ hoặc tổ chức đầu tư trái pháp luật. Đại biểu nhấn mạnh các biện pháp phải dựa trên quản lý rủi ro, có tiêu chí rõ ràng, tránh tạo thêm thủ tục cản trở nhà đầu tư chân chính.
Hoàn thiện chính sách để cạnh tranh thu hút dòng vốn chất lượng
Giải trình tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, về ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.
Cùng với quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, chính sách phải chú trọng chất lượng dự án, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với sản xuất trong nước. Cần có tiêu chí thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tăng giá trị gia tăng và tác động lan tỏa.
Tiếp thu kiến nghị của đại biểu, Bộ trưởng khẳng định sẽ hoàn thiện quy định theo hướng hỗ trợ gắn với kết quả đầu ra có thể lượng hóa, kiểm tra và giám sát. Đồng thời, cần xác định rõ điều kiện chấm dứt, thu hồi ưu đãi khi nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu hoặc không thực hiện cam kết.
Theo Bộ trưởng, cơ chế này phải được thiết kế chặt chẽ ngay từ khi xây dựng chính sách. Nếu nhà đầu tư đã nhận ưu đãi nhưng không hoàn thành nghĩa vụ mà thiếu căn cứ xử lý rõ ràng, việc thực hiện sẽ khó khăn, nhất là khi phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế.
Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến để làm rõ điều kiện hưởng ưu đãi, tiêu chí đánh giá kết quả, trách nhiệm kiểm tra, giám sát và cách xử lý vi phạm, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ.
