Thủ lĩnh hạ sơn
Hơn năm thập niên trước, đồng bào dân tộc Dao, Mông trên các bản làng vùng cao của Sơn La, Yên Bái đã bồng bế, dắt díu nhau men theo dòng chảy con suối về các thung lũng bằng phẳng trên đất Phú Thọ để khai hoang, định cư lập bản, khởi đầu cho cuộc sống sung túc, thanh bình hôm nay. Hành trình gian nan ấy thành công có sự đóng góp công sức rất lớn của những cán bộ, đảng viên trong vai trò già làng, trưởng bản, thủ lĩnh tinh thần, đã quyết đoán trong việc đưa ra các quyết định hạ sơn táo bạo, tiên phong, gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nỗ lực phát triển kinh tế, vun đắp cuộc sống trên quê hương mới.
Kỳ 1: Bản lĩnh người đứng mũi chịu sào
Hạ sơn là quyết định mang tính lịch sử, thay đổi lớn những tập quán sinh hoạt, sản xuất đã ăn sâu trong tiềm thức biết bao thế hệ đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống mỗi cá nhân, gia đình. Để cả đồng bào tin tưởng, nghe theo, người thủ lĩnh cần có đủ đức, tâm, tài, trí. Lịch sử các bản làng vùng cao Đất Tổ còn ghi lại nhiều câu chuyện thể hiện bản lĩnh, khí phách của những thủ lĩnh bản làng, khắc sâu trong tâm trí các thế hệ người dân hạ sơn với niềm cảm phục, tự hào.
Gian nan thử sức
Có tên là xóm Mới bởi những người Dao đầu tiên hạ sơn từ đại ngàn thâm u, hiểm trở ở thượng nguồn suối Bòng, suối Lài trên Phù Yên (tỉnh Sơn La) về thung lũng bằng phẳng của xã Đồng Sơn, huyện Tân Sơn (nay là xã Lai Đồng) khai hoang, lập ấp đến nay mới khoảng nửa thế kỷ. Nhắc đến xóm Mới, không thể không nhắc đến cụ Lý Công Trình - công dân đầu tiên, người “khai sinh”, tạo dựng làng bản. Gần trăm tuổi đời, 60 năm tuổi Đảng, hai năm trước, cụ đã về với tổ tiên người Dao, nhưng câu chuyện cụ mạnh mẽ đấu tranh trực tiếp với thầy mo để vận động bà con hạ sơn vẫn được người dân xóm Mới nhắc lại với niềm kính phục.
Theo lời kể của bà con, cụ Trình may mắn hơn bạn bè cùng trang lứa khi được đi học trường làng, biết đọc, biết viết và sớm tham gia hoạt động cách mạng. Cụ từng đảm nhiệm nhiều cương vị, từ Tiểu đội trưởng dân quân du kích Đồn Mù, đóng quân tại khu vực Lai Đồng, đến phụ trách hoạt động du kích cả khu vực thượng huyện, tiếp giáp với Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái. Năm 1963, cụ vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Cuối năm 1969, đang điều trị vết thương do mảnh bom bi của đế quốc Mỹ, cụ Trình được tổ chức giao nhiệm vụ lên khu vực suối Bòng vận động các gia đình người Dao hạ sơn.
Am hiểu phong tục, tập quán và nói được tiếng Dao, cụ băng rừng lên gặp từng gia đình, phân tích điều hơn, lẽ thiệt khi chuyển về nơi ở mới gần trung tâm xã. Bao năm di cư trên những sườn núi hiểm trở, bà con thấm thía cảnh thóc trong bồ cạn trước vụ gặt, ốm đau không có thuốc, trẻ nhỏ lớn lên lại tiếp nối cuộc sống lên nương, làm rẫy. Nghe cụ Trình thuyết phục, bà con thống nhất ăn Tết cổ truyền xong sẽ dọn nhà, hạ sơn. Cụ Trình được mời ở lại ăn Tết cùng dân bản. Tết Canh Tuất 1970, trời rét đậm. Đêm mùng 10 tháng Giêng, khi gần ba chục hộ dân đang quây quần bên bếp lửa, thống nhất những việc cuối cùng để sáng hôm sau đồng loạt dọn nhà, thầy mo bất ngờ đứng dậy, nghiêm giọng: “Không ai được đi, con ma người Dao bảo không được đi. Tôi đã cúng và hỏi rồi, ai đi sẽ bị tai họa, từ người đến con gà, con chó cũng không có đường sống...”. Không gian chợt tĩnh lặng. Mọi người nhìn nhau hoảng sợ.
Biết chuyện hạ sơn thành hay bại là ở khoảnh khắc này, cụ Trình bình thản đứng dậy: “Tôi là người của Đảng nên không bao giờ nói lời sai trái. Đảng chỉ muốn bà con người Dao mình có cuộc sống no ấm, sung túc hơn. Không có con ma nào hại được người làm việc đúng cả. Bà con phải tin tôi, tin Đảng. Sáng mai chúng ta vẫn tiến hành theo kế hoạch. Một gia đình theo, tôi vẫn đưa về định cư chu đáo...”.
Sáng hôm sau, chỉ 7 hộ trong gần 30 gia đình theo cụ Trình hạ sơn. Mấy tháng sau, nhờ chính quyền địa phương hỗ trợ vật tư, hướng dẫn kỹ thuật canh tác lúa nước, cùng điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi, đời sống những gia đình xuống núi chuyển biến tích cực. Hạt lúa, bắp ngô đủ nuôi người, trẻ nhỏ được cắp sách đến trường, ốm đau có y, bác sĩ thăm khám. Các hộ ở lại lần lượt xuống theo. Không còn ai để níu kéo, thầy mo cũng lặng lẽ đưa gia đình về ở cùng. Xóm Mới có tên từ đó (nay gọi là thôn Mới). Cụ Trình nhiều năm được tín nhiệm bầu làm Trưởng khu dân cư, người có uy tín, già làng, thủ lĩnh tinh thần được bà con kính trọng.

Cụ Lý Công Trình thăm hỏi, động viên công nhân làm đập tràn qua suối vào xóm (Ảnh chụp năm 2024, ngay trước khi cụ tạ thế).
Muộn hơn xóm Mới 13 năm, năm 1983, 5 gia đình người Mông do cụ Sùng A Páo dẫn đầu từ vùng núi cao Cát Thịnh (tỉnh Yên Bái cũ) về khu vực bằng phẳng ven suối thuộc xã Thu Cúc khai phá đất hoang, trồng lúa nước, chăn nuôi và dựng nhà định cư. Khi làng bản mới dần ấm hơi người, đồng ruộng bắt đầu cho thu hoạch, chính quyền địa phương đến thông báo bà con không thể định cư, phải quay về nơi ở cũ. Trình bày ở xã không được, cụ Páo đi ngựa xuống huyện xin gặp lãnh đạo nhưng vẫn không thay đổi được quyết định. Sau nhiều đêm suy nghĩ, cụ tập trung bà con và tuyên bố: “Bà con cứ yên tâm ở lại, tôi sẽ về Trung ương thưa chuyện. Mình không làm gì sai, không vi phạm pháp luật thì không có gì phải lo sợ”. Nói là làm, cụ bán con bò làm lộ phí, đi bộ ra phố huyện, bắt xe về Hà Nội rồi tìm đến Ủy ban Dân tộc, xin gặp người đứng đầu. Bằng tiếng phổ thông còn ngọng nghịu, cụ nói: “Chúng tôi là con cháu cụ Hồ. Theo cụ Hồ làm cách mạng. Chúng tôi là người Việt Nam, tại sao lại không cho chúng tôi sinh sống trên đất Việt Nam...”. Sau khi nghe rõ ngọn ngành câu chuyện, vị lãnh đạo Ủy ban Dân tộc lúc bấy giờ ôn tồn bảo cụ về động viên bà con yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, chấp hành pháp luật, mọi chuyện sẽ có Chính phủ giải quyết. Mấy hôm sau, cán bộ xã lên thông báo đồng ý cho bà con định cư, mời về xã làm thủ tục nhập khẩu. Bản Mỹ Á ra đời từ đó (nay gọi là thôn Mỹ Á). Cụ Sùng A Páo trở thành già làng, thủ lĩnh của bản cho đến năm 2006, khi cụ tạ thế trong niềm tiếc thương của người dân.

Ông Sùng A Câu là cháu nội cụ Sùng A Páo giờ là một trong những hộ khá giả của thôn Mỹ Á.
Hai câu chuyện, hai hoàn cảnh, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: Khi cộng đồng đứng trước một quyết định lớn, người thủ lĩnh phải là người dám đứng ra trước tiên. Cụ Lý Công Trình vượt qua nỗi sợ từ những quan niệm cũ; cụ Sùng A Páo đi tìm câu trả lời cho quyền được định cư của bà con. Phía sau những lựa chọn ấy là trách nhiệm với cộng đồng và niềm tin rằng cuộc sống có thể tốt đẹp hơn nếu dám thay đổi.
Cánh nỏ giữ làng
Nếu cụ Trình và cụ Páo là những người đứng mũi chịu sào trong hành trình đưa đồng bào xuống núi, thì ở Sinh Tàn, ông Bàn Văn Chiêu lại được nhắc đến như một người đã cùng dân bản đi qua những năm tháng khắc nghiệt của chiến tranh, đói nghèo để dựng nên cuộc sống hôm nay.

Ở tuổi 68, ông Bàn Văn Chiêu vẫn luôn nhiệt tình, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động địa phương.
Bước sang tuổi 68, ông Chiêu vẫn giữ được sức vóc dẻo dai của người dành cả đời leo rừng, lội suối. Có mặt trong 4 gia đình Dao đầu tiên về khai sơn, phá thạch, lập nên bản Sinh Tàn, ông cũng là đảng viên đầu tiên, nhiều năm được tín nhiệm bầu làm trưởng khu hành chính. Ông còn làm nên câu chuyện đặc biệt: Dùng nỏ bắn máy bay, cùng đội du kích bắt sống phi công Mỹ ngay trên đất rừng Sinh Tàn.
Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, không chịu nổi cuộc sống thiếu đói trên đỉnh núi cao, mấy gia đình người Dao bàn nhau xuống thung lũng chân núi Thằm Tạo, vỡ đất khai hoang, lập nên bản Sinh Tàn, xã Khả Cửu. Năm 1972, bản mới chỉ có 4, 5 nóc nhà dựng tạm ven suối. Khi ấy, ông Chiêu còn trẻ, ngày ngày vỡ đất khai hoang, lên rừng đặt bẫy thú. Rắn rết, lợn rừng, chồn, cáo chẳng làm ông sợ. Là thành viên đội dân quân nhưng chưa từng được cầm súng, vũ khí quen thuộc của ông chỉ là chiếc nỏ săn thú. Nhiều lần máy bay Mỹ rà thấp ngọn cây, nhìn rõ cả dòng chữ trên thân máy bay, ông Chiêu tức lắm. Một lần ngồi trên chạc cây “rình” máy bay, thấy chiếc phản lực hạ độ cao, ông lên dây bắn hú họa mấy phát rồi leo vội xuống. Anh em hỏi, ông khoát tay: “Biết là không làm gì được nó, nhưng phải bắn để chúng nó thấy mình không sợ”. Về sau, chuyện ông Chiêu dùng nỏ bắn máy bay lan rộng cả xã. Một cán bộ quân đội về bản biết chuyện đã chụp tặng ông tấm ảnh, kèm dòng chữ: “Tặng ông Bàn Văn Chiêu - Người dùng nỏ bắn máy bay”. Tấm hình được ông giữ như báu vật suốt mấy chục năm, nhưng đợt dựng nhà mới chẳng biết thất lạc đi đâu. Ông tiếc ngẩn ngơ cả tháng trời.
Câu chuyện chiếc nỏ càng trở nên đặc biệt khi sáng 20/5/1972, ông Chiêu và dân làng chứng kiến một chiếc F-105 của Mỹ bị Không quân Việt Nam bắn rơi trên bầu trời Thằm Tạo. Khoảng 9 giờ sáng, đang cùng đội sản xuất đánh trâu, bừa ruộng khai hoang, ông bất chợt nghe tiếng động cơ máy bay phản lực. Hai chiếc máy bay rượt đuổi nhau, rồi một chiếc bốc khói, lảo đảo rơi xuống phía núi. Hai phi công nhảy dù. Dân quân nhanh chóng được huy động. Ba chiếc trực thăng Mỹ xuất hiện, bắn dữ dội để giải cứu phi công. Một tên được đưa đi, tên còn lại tiếp tục ẩn náu. Đến khoảng 5 giờ chiều, dân quân phát hiện vị trí, nhanh chóng khống chế và dùng dây bẫy lợn rừng trói chặt, giải về xã. Nhìn tên phi công to lớn trong bộ quần áo dây nhợ lùng nhùng, chắp tay xin tha mạng, ông Chiêu bật cười. Tưởng phi công Mỹ dữ dằn, hung hãn thế nào, ai ngờ không bằng mấy cậu bé trong bản người Dao.

Hiện vật xác máy bay F-105 của Mỹ bị bắn rơi ở Sinh Tàn đang trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 2.
Kề cận tuổi “cổ lai hy”, sức vóc không còn được như trước, con cái đã phương trưởng, ông Chiêu vẫn đảm đương việc canh tác 15 ha rừng cây nguyên liệu, nhiệt tình, gương mẫu tham gia các phong trào, hoạt động địa phương. Bà con tín nhiệm bầu ông là người có uy tín, “cây đại thụ”, điểm tựa tinh thần của người Dao Sinh Tàn.
Từ cụ Lý Công Trình, ông Sùng A Páo đến ông Bàn Văn Chiêu, những người đi đầu năm nào đều có một điểm chung: Dám đứng trước cộng đồng khi phía trước còn nhiều điều chưa biết, dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình và ở lại để cùng bà con dựng xây cuộc sống mới.
Nhưng đưa được người dân xuống núi mới chỉ là bước đầu. Trên vùng đất mới, họ phải học cách làm ăn khác, phải biến đất hoang thành ruộng đồng, nương rừng, phải tự mình thoát khỏi đói nghèo để thực sự đứng vững. Và một lần nữa, những “thủ lĩnh hạ sơn” lại phải đi trước, lần này không phải bằng bước chân xuống núi, mà bằng những cách làm mới để dựng nghiệp trên quê hương mới.
Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/thu-linh-ha-son-260880.htm


