Thuê người giúp việc: Loạt hành vi chủ nhà có thể bị xử phạt từ 10/9

Ngoài quy định cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với hành vi không ký hợp đồng, không thông báo với UBND cấp xã, Nghị định 283 còn quy định mức phạt tới 75 triệu đồng với các hành vi ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc quấy rối tình dục người giúp việc.

Từ ngày 10/9, Nghị định 283 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chính thức có hiệu lực. Đáng chú ý, nghị định bổ sung chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm khi sử dụng lao động là người giúp việc gia đình.

Chủ nhà thuê người giúp việc không ký hợp đồng, không báo chính quyền sẽ bị xử phạt. Ảnh: Xuân Lực/AI.

Chủ nhà thuê người giúp việc không ký hợp đồng, không báo chính quyền sẽ bị xử phạt. Ảnh: Xuân Lực/AI.

Theo điều 28, Nghị định 283, người sử dụng lao động sẽ bị phạt cảnh cáo nếu không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người giúp việc gia đình. Mức cảnh cáo cũng áp dụng đối với trường hợp không thanh toán tiền tàu xe để người giúp việc về nơi cư trú khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp người lao động chủ động chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.

Trường hợp đã bị cảnh cáo về hành vi không ký hợp đồng hoặc không trả tiền tàu xe nhưng tiếp tục tái phạm, người sử dụng lao động sẽ bị phạt từ 1-3 triệu đồng.

Nghị định cũng quy định phạt tiền từ 1-3 triệu đồng đối với người sử dụng lao động không thông báo cho UBND cấp xã về việc sử dụng hoặc chấm dứt sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định.

Theo Điều 28, người sử dụng lao động sẽ bị phạt từ 10-15 triệu đồng nếu giữ giấy tờ tùy thân của người giúp việc gia đình hoặc không trả khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định để người lao động chủ động tham gia các loại bảo hiểm này.

Đồng thời, người vi phạm phải trả lại giấy tờ tùy thân và thanh toán đầy đủ khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động.

Đáng chú ý, Nghị định quy định phạt tiền từ 50-75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc dùng vũ lực đối với người giúp việc gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đây là mức xử phạt cao nhất đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo Nghị định 283.

Theo Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định 145/2020, lao động là người giúp việc gia đình là người làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình như nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc người bệnh, lái xe, làm vườn và các công việc khác không liên quan đến hoạt động thương mại.

Khi sử dụng người giúp việc, người sử dụng lao động bắt buộc phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản. Hai bên phải thỏa thuận rõ về công việc, địa điểm làm việc, tiền lương, hình thức trả lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chỗ ở, điều kiện ăn ở (nếu có), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các quyền, nghĩa vụ khác.

Người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm thông báo với UBND cấp xã về việc sử dụng hoặc chấm dứt sử dụng lao động là người giúp việc trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký hoặc chấm dứt hợp đồng.

Ngoài việc thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, người sử dụng lao động phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người giúp việc; bố trí chỗ ăn, ở hợp vệ sinh nếu có thỏa thuận; trả khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động chủ động tham gia theo quy định; đồng thời tạo điều kiện để người giúp việc học văn hóa, học nghề nếu có nhu cầu.

Về phía người lao động, người giúp việc gia đình có trách nhiệm thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường theo quy định nếu làm hư hỏng hoặc mất tài sản của người sử dụng lao động, đồng thời có quyền tố cáo cơ quan có thẩm quyền nếu bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình làm việc.

Quỳnh An

Nguồn VietTimes: https://viettimes.vn/thue-nguoi-giup-viec-loat-hanh-vi-chu-nha-co-the-bi-xu-phat-tu-109-post204070.html