Thước đo của chương trình mục tiêu quốc gia là đời sống người dân
Thước đo cao nhất của chương trình mục tiêu quốc gia không nằm ở số dự án hoàn thành hay tỷ lệ giải ngân mà là sự phát triển của con người và chất lượng cuộc sống của người dân.
Đòn bẩy đột phá trong tư duy quản lý phát triển
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 20/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.
Thảo luận tại nghị trường, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, đoàn thành phố Hải Phòng đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc đổi mới phương thức quản lý. Đại biểu ghi nhận Tờ trình đã thể hiện rõ nguyên tắc không làm thu hẹp phạm vi, mục tiêu, đối tượng, quyền lợi và mức độ ưu tiên của các chương trình trước khi tích hợp.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng việc bảo toàn quy mô, đối tượng mới chỉ là "điều kiện cần". Điều kiện đủ và cũng là bản chất của việc tích hợp phải là tạo ra một giá trị gia tăng mới trong công tác quản lý nhà nước và hiệu quả đầu tư.
"Nếu trước đây các chương trình có nhiều đầu mối, quy trình trùng lặp, nguồn lực bị phân tán, thì sau khi tích hợp, chúng ta phải đo lường cụ thể: Đầu mối giảm bao nhiêu?. Thủ tục hành chính giản lược thế nào?. Thời gian phân bổ và giải ngân nguồn lực có được rút ngắn không?. Những nội dung trùng lặp xử lý ra sao?. Và quan trọng nhất là khả năng phối hợp nguồn lực để giải quyết các vấn đề phát triển tại địa phương có tốt hơn trước hay không?", đại biểu đặt vấn đề.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, đoàn thành phố Hải Phòng phát biểu thảo luận.
Cụ thể hóa luận điểm này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga dẫn chứng: Trên cùng một địa bàn khó khăn, người dân có đồng thời các nhu cầu về sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa và hạ tầng thiết yếu. Nếu trước đây nhu cầu đó được giải quyết qua nhiều chương trình khác nhau, thì ưu điểm của mô hình mới phải là khả năng nhìn một địa bàn như một chỉnh thể; nhìn một người dân, một gia đình trong tổng thể các nhu cầu phát triển, giải quyết bài toán phát triển của người dân và hộ gia đình một cách toàn diện
Tờ trình của Chính phủ cũng đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung theo dõi đồng bộ mục tiêu, nguồn lực dự án, tiến độ giải ngân, đối tượng thụ hưởng, công tác phối hợp chung… Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Chính phủ bổ sung các chỉ số đo lường hiệu quả tích hợp vào hệ thống dữ liệu dùng chung. Tránh tình trạng sau khi tích hợp nhưng khi kiểm tra, đánh giá vẫn chỉ chấm điểm rời rạc từng chỉ tiêu văn hóa, giáo dục, y tế...
“Nếu như vậy, về bản chất chỉ là "bình mới rượu cũ", chưa chứng minh được tính vượt trội của mô hình mới”, đại biểu nêu quan điểm.
Ngoài ra, đồng tình với định hướng chuyển đổi mạnh mẽ từ "quản lý theo quy trình, thủ tục" sang "quản lý theo kết quả" của Chính phủ, đại biểu Nga đề xuất cần phân biệt rạch ròi giữa sản phẩm đầu ra và kết quả tác động thực tế.
“Một ngôi trường được xây dựng, một trạm y tế được nâng cấp, một thiết chế văn hóa được đầu tư, một mô hình kinh tế được hỗ trợ... đó là những sản phẩm cần thiết, nhưng hoàn thành sản phẩm chưa đồng nghĩa với việc hoàn thành mục tiêu phát triển. Bởi nếu một trường học được xây xong nhưng chất lượng học tập không được cải thiện thì mục tiêu giáo dục chưa thể nói là đã hoàn thành. Một trạm y tế được đầu tư đầy đủ nhưng người dân vẫn khó tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu thì mục tiêu y tế cũng chưa đạt hiệu quả mong muốn. Một hộ nghèo được hỗ trợ một mô hình sinh kế nhưng sau khi kết thúc hỗ trợ lại tái nghèo thì không thể coi đó là giải pháp bền vững”, đại biểu chứng minh quan điểm.
Để giải quyết bài toán trên, đại biểu Nga đề nghị hệ thống đánh giá của Chính phủ cần được thiết kế theo hai tầng. Tầng thứ nhất là sản phẩm đầu ra, đó là số công trình, thiết bị, số lượt người hỗ trợ, tiến độ giải ngân. Tầng thứ hai quan trọng hơn là kết quả tác động: Thu nhập của người dân có tăng bền vững hay không? Khả năng tiếp cận giáo dục, y tế và văn hóa có được cải thiện không? Chất lượng nguồn nhân lực có tăng không? Khoảng cách phát triển giữa các vùng có được thu hẹp không? Và chất lượng cuộc sống của người dân được thay đổi như thế nào khi chúng ta hoàn thành chương trình?
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, thước đo cao nhất của các chương trình mục tiêu quốc gia không nằm ở số lượng dự án hoàn thành hay tỷ lệ giải ngân, mà nằm ở sự thay đổi tích cực trong cuộc sống hàng ngày của người thụ hưởng. Việc tích hợp lần này phải trở thành đòn bẩy đột phá trong tư duy quản lý phát triển.
Chất lượng cuộc sống của nhân dân là thước đo cuối cùng
Cùng quan điểm, đại biểu Bùi Văn Dũng, đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa cũng cho rằng, việc tích hợp 4 Chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia cần được nhìn nhận là một bước đổi mới trong tư duy phát triển và quản trị.

Đại biểu Bùi Văn Dũng, đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa phát biểu.
Đại biểu phân tích, về quan điểm và ý nghĩa của việc tích hợp 4 chương trình tuy thuộc các lĩnh vực khác nhau nhưng xét đến cùng đều hướng tới một chủ thể là con người, một không gian cộng đồng và địa phương với một mục tiêu chung là nâng cao chất lượng phát triển và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Nghèo đói không chỉ là thiếu thu nhập; phát triển nông thôn không chỉ là hạ tầng; phát triển vùng dân tộc thiểu số không thể tách rời giáo dục, y tế, văn hóa và sinh kế... Vì vậy, tích hợp tạo điều kiện chuyển từ tư duy quản lý theo từng chương trình, từng ngành sang tư duy phát triển tích hợp lấy con người làm trung tâm; đồng thời khắc phục phân tán nguồn lực, chồng chéo đối tượng và thủ tục. "Giá trị lớn nhất cần đạt được là phải tạo ra hiệu quả tổng hợp lớn hơn tổng hiệu quả của 4 chương trình riêng lẻ", đại biểu đề xuất.
Cũng theo đại biểu Bùi Văn Dũng, phạm vi chương trình rất rộng, tổng nguồn lực dự kiến giai đoạn 2026 - 2030 lên tới hơn 800 nghìn tỷ đồng. Nếu chỉ hợp nhất về tên gọi và đầu mối nhưng bên trong vẫn duy trì nhiều cơ chế phân bổ, định mức, thủ tục và hệ thống báo cáo riêng thì có thể giảm số lượng chương trình nhưng lại tạo ra một "siêu chương trình" rất lớn và phức tạp. Vì vậy, đại biểu đặt câu hỏi, vấn đề cốt lõi không phải là có tích hợp hay không, mà là tích hợp như thế nào để không làm mất đi tính đặc thù của từng lĩnh vực?.
Ngoài ra, đại biểu cho rằng, cần chuyển căn bản từ quản lý nguồn lực sang quản trị kết quả phát triển. "Chúng ta không chỉ cần biết bao nhiêu vốn được phân bổ và giải ngân, mà quan trọng hơn là sau 5 năm, 10 năm đời sống nhân dân thay đổi thế nào"; khoảng cách phát triển được thu hẹp bao nhiêu?; chất lượng hạ tầng, y tế, văn hóa được nâng lên ra sao?... Do đó, cần lựa chọn một số chỉ tiêu tác động cốt lõi đo được sự thay đổi thực chất của đời sống nhân dân. Giải ngân là điều kiện cần, sự phát triển của con người và chất lượng cuộc sống của nhân dân mới là thước đo cuối cùng", đại biểu Bùi Văn Dũng phát biểu.
Để phát huy tốt nhất hiệu quả của việc tích hợp, đại biểu Bùi Văn Dũng đề nghị quán triệt nguyên tắc: Thống nhất về mục tiêu và quản trị, nhưng tôn trọng đặc thù chuyên môn. Bởi, văn hóa không thể quản trị hoàn toàn như đầu tư hạ tầng; giáo dục không thể đánh giá như giảm nghèo; y tế và dân số cũng có những yêu cầu chuyên ngành riêng.
