Thương hiệu quốc gia - Đòn bẩy định vị Việt Nam trong cạnh tranh giá trị toàn cầu

Thương hiệu quốc gia được xác định là công cụ chiến lược nâng vị thế Việt Nam, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển từ gia công sang sáng tạo, xây dựng giá trị bền vững. Trao đổi với phóng viên TTXVN, ông Hoàng Minh Chiến – Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) đã chia sẻ những định hướng và giải pháp trọng tâm nhằm phát huy vai trò của Chương trình Thương hiệu quốc gia trong giai đoạn mới.

Quang cảnh lễ khai mạc Tuần lễ Thương hiệu quốc gia Việt Nam 2026, ngày 16/4/2026. Ảnh: Trần Việt/TTXVN

Quang cảnh lễ khai mạc Tuần lễ Thương hiệu quốc gia Việt Nam 2026, ngày 16/4/2026. Ảnh: Trần Việt/TTXVN

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn, ông đánh giá vai trò của Thương hiệu quốc gia Việt Nam như thế nào trong việc định vị lại vị thế của Việt Nam trên bản đồ thương mại thế giới?

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc sâu rộng, cuộc cạnh tranh giữa các nền kinh tế không còn chỉ xoay quanh giá hay sản lượng, mà đã chuyển sang cuộc chiến về niềm tin, uy tín và giá trị thương hiệu. Bởi vậy, Thương hiệu quốc gia Việt Nam đóng vai trò ngày càng then chốt trên nhiều phương diện.

Đầu tiên, Thương hiệu quốc gia là sự bảo chứng về uy tín, giúp doanh nghiệp Việt Nam vượt qua rào cản niềm tin để hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Giữa thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp và Thương hiệu quốc gia có mối liên hệ hữu cơ khi được nâng tầm, tạo ra tấm thẻ thông hành cho toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp và ngành hàng vươn ra thế giới.

Hơn nữa, Thương hiệu quốc gia là đòn bẩy để chuyển dịch từ tăng trưởng theo "lượng" sang "chất". Phải thẳng thắn nhìn nhận việc hiện diện chủ yếu ở phân khúc thấp của chuỗi giá trị – mạnh về gia công (OEM) nhưng còn yếu về tự thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu riêng (OBM). Chương trình Thương hiệu quốc gia với hệ thống tiêu chí Chất lượng – Đổi mới sáng tạo – Năng lực tiên phong chính là công cụ thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng và bản sắc Việt Nam trong mỗi sản phẩm.

Cùng đó, Thương hiệu quốc gia gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết Đại hội XIV đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế yêu cầu nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Quyết định số 626/QĐ-TTg ngày 6/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình "Vươn ra thị trường quốc tế" giai đoạn 2026–2030 đã tạo cơ sở hành động cụ thể. Trong tổng thể đó, Thương hiệu quốc gia chính là công cụ biến kim ngạch thương mại thành sức mạnh địa kinh tế bền vững.

Có thể khẳng định, Thương hiệu quốc gia Việt Nam không chỉ là chương trình xúc tiến thương mại mà là chiến lược quốc gia về năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu mỗi sản phẩm Việt Nam khi ra thế giới đều mang theo một "câu chuyện Việt Nam" có chất lượng, có bản sắc và giá trị.

Phụ nữ Mông lên nương thu hái chè Shan tuyết Suối Giàng (xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai), bắt đầu một ngày lao động quen thuộc trên các triền chè cổ thụ. Ảnh minh họa: Quỳnh Anh/ TTXVN phát

Phụ nữ Mông lên nương thu hái chè Shan tuyết Suối Giàng (xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai), bắt đầu một ngày lao động quen thuộc trên các triền chè cổ thụ. Ảnh minh họa: Quỳnh Anh/ TTXVN phát

Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng, vậy xin ông cho biết Chương trình Thương hiệu quốc gia cần được tái thiết kế ra sao để trở thành công cụ dẫn dắt quá trình chuyển đổi này ở cấp độ nền kinh tế?

Như trao đổi, phải thẳng thắn nhìn nhận, giá trị Thương hiệu quốc gia tăng nhanh nhưng tổng giá trị 100 thương hiệu doanh nghiệp hàng đầu năm 2025 giảm 14%, chỉ đạt khoảng 38,4 tỷ USD. Việt Nam vẫn mạnh về gia công (OEM), yếu về tự thiết kế (ODM) và thương hiệu riêng (OBM). Bài toán là thay đổi con đường và Chương trình cần tái thiết kế trên ba nội dung trọng tâm.

Cụ thể, đổi mới hệ thống tiêu chí theo hướng lấy đổi mới sáng tạo làm trọng tâm. Thông tư 18/2026/TT-BCT quy định hệ thống tiêu chí của Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam vừa được ban hành, theo đó nâng điểm Đổi mới sáng tạo từ 180 lên 300 điểm trên thang 1.000 điểm. Đồng thời, "tiên phong" được tái định nghĩa: tiên phong trong chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và thực hành ESG, chứ không chỉ là quy mô hay thị phần.

Các chỉ số đánh giá gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được bổ sung cụ thể tối ưu tài nguyên, tái chế, giảm chất thải, thiết kế sản phẩm thân thiện môi trường để sản xuất bền vững trở thành nội dung chấm điểm bắt buộc. Qua đó, nâng cao nhận thức và khuyến khích các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua đổi mới sáng tạo.

Song sóng đó là hiện đại hóa phương thức xúc tiến thương mại. Cục Xúc tiến thương mại tiếp tục hợp tác với Amazon, Alibaba, TikTok để xây dựng "Gian hàng Thương hiệu quốc gia Việt Nam", ứng dụng hội chợ ảo, livestream xuyên biên giới. Ứng dụng mạnh mẽ các công cụ quảng cáo trực tuyến hiện đại, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm và xây dựng bộ ấn phẩm, dữ liệu số đa ngôn ngữ thống nhất để bảo đảm hình ảnh Việt Nam được quảng bá chuyên nghiệp, nhất quán trên toàn thế giới.

Đặc biệt, đổi mới phương thức quảng bá theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa xúc tiến thương mại với ngoại giao văn hóa và du lịch. Việc lồng ghép hình ảnh Thương hiệu quốc gia vào các sự kiện ngoại giao kinh tế, văn hóa cấp cao sẽ giúp gia tăng độ tin cậy và sức lan tỏa của thương hiệu Việt.

Chúng tôi xác định mục tiêu truyền thông không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu xuất xứ hàng hóa, mà phải kể được "Câu chuyện Việt Nam" thông qua từng sản phẩm. Một sản phẩm "Vietnam Value" thực thụ khi ra thế giới phải mang theo "phần hồn" là bản sắc văn hóa và các giá trị về đổi mới sáng tạo, sản xuất xanh và trách nhiệm bền vững.

Theo ông, trong dài hạn, cần những cải cách thể chế và chính sách mang tính đột phá nào để Thương hiệu quốc gia Việt Nam không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn góp phần hình thành các tập đoàn thương hiệu mang tầm khu vực và toàn cầu?

Một chiến lược tốt sẽ không có ý nghĩa nếu không có cơ chế triển khai đủ mạnh. Để Thương hiệu quốc gia thực sự góp phần hình thành các tập đoàn mang tầm khu vực và toàn cầu vẫn cần những cải cách thể chế mang tính đột phá trên bốn phương diện.

Đầu tiên là chuyển đổi căn bản tư duy chính sách theo hướng "Nhà nước đồng hành, chia sẻ rủi ro". Đây là điểm đột phá của Quyết định 626/QĐ-TTg xác định khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng dẫn dắt – theo đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; trong đó, Nhà nước tập trung giải quyết điểm nghẽn thể chế, xây dựng hạ tầng thông tin và tạo lập môi trường thuận lợi. Đồng thời, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước khẳng định doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các ngành then chốt. Do đó, sự kết hợp giữa hai khu vực này là nền tảng để hình thành đội ngũ doanh nghiệp đủ tầm cạnh tranh toàn cầu.

Bên cạnh đó, lấy khoa học công nghệ và văn hóa làm hai trụ cột nền tảng. Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thương hiệu mạnh không thể dựa mãi trên tài nguyên thô hay lao động giá rẻ mà phải được xây dựng trên hàm lượng tri thức và giải pháp công nghệ độc đáo. Đồng thời, theo Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, coi đây là sức mạnh nội sinh cần biến di sản thành tài sản, để mỗi sản phẩm Việt Nam đến tay người tiêu dùng quốc tế đều kể một câu chuyện mang bản sắc Việt Nam đích thực.

Mặt khác, cần đổi mới mạnh chính sách hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng hỗ trợ nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị, chứ không chỉ hỗ trợ bán hàng ra nước ngoài. Điểm cốt lõi là tạo điều kiện để doanh nghiệp chuyển từ gia công sang tự thiết kế, tự làm chủ thương hiệu và từng bước làm chủ hệ thống phân phối, tức là đi từ OEM sang ODM, OBM. Vì vậy, chính sách cần ưu tiên cho đổi mới sáng tạo, R&D, thiết kế sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế mới.

Đáng lưu ý, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể ngay lập tức trở thành thương hiệu toàn cầu nên Nhà nước cần có cơ chế lựa chọn và hỗ trợ trọng điểm đối với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp trong ngành chiến lược, doanh nghiệp có tiềm năng quốc tế hóa cao. Sự hỗ trợ này không chỉ là truyền thông mà phải bao gồm tư vấn chiến lược, thông tin thị trường, kết nối đầu tư, hỗ trợ mở rộng ra nước ngoài, kể cả thông qua liên doanh, mua bán sáp nhập và xây dựng mạng lưới hiện diện tại thị trường quốc tế.

Chính vì vậy, cải cách mang tính đột phá ở đây là phải đưa Thương hiệu quốc gia từ vị trí một chương trình xúc tiến lên vị trí một thiết chế chiến lượccủa nền kinh tế. Bởi khi thể chế đủ đồng bộ, chính sách đủ nhất quán và nguồn lực đủ tập trung, Thương hiệu quốc gia mới có thể trở thành bệ đỡ để Việt Nam hình thành các tập đoàn thương hiệu mạnh, có năng lực cạnh tranh khu vực và từng bước khẳng định vị thế toàn cầu.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Uyên Hương/TTXVN (thực hiện)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/thuong-hieu-quoc-gia-don-bay-dinh-vi-viet-nam-trong-canh-tranh-gia-tri-toan-cau-20260417114217460.htm