Thượng tôn pháp luật, tôn trọng quyền con người

Quyền con người không thể bị thu hẹp tùy tiện, nhưng cũng không phải giấy miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Từ tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW về sự trung thực, trách nhiệm, kỷ cương và văn hóa thượng tôn pháp luật, vấn đề hôm nay không chỉ là xử lý thông tin sai lệch, mà còn phải tạo sức đề kháng trước sự giả dối.

Danh xưng không tạo quyền miễn trừ pháp lý

Trong các tranh luận về nhân quyền, có một cách tiếp cận dễ tạo hiệu ứng nhưng làm nghèo bản chất vấn đề: thay vì xem xét hành vi cụ thể, người ta tập trung vào danh xưng của người bị xử lý như “nhà hoạt động”, “nhà văn”, “nhà báo”, “người bất đồng chính kiến”, rồi từ đó suy ra rằng mọi biện pháp pháp lý đối với họ đều là hạn chế quyền con người.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính. Ảnh: Phạm Thắng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính. Ảnh: Phạm Thắng

Pháp quyền không vận hành bằng nhãn chính trị. Với mỗi vụ việc, phải trả lời các câu hỏi: chủ thể đã làm gì; thông tin nào được công bố; nội dung nào bị cho là sai; quyền, lợi ích nào bị xâm phạm; điều luật nào điều chỉnh; chứng cứ có được kiểm tra bằng thủ tục hợp pháp hay không? Ranh giới này cần được giữ thật chắc. Phản biện chính sách, tranh luận học thuật, nêu ý kiến khác biệt hay phê bình hoạt động công quyền không thể tự động bị đồng nhất với hành vi phạm pháp. Nhưng quyền biểu đạt cũng không tạo ra đặc quyền bịa đặt, vu khống, kích động bạo lực hoặc xâm phạm quyền hợp pháp của người khác.

Danh xưng, vì thế, không tạo quyền miễn trừ pháp lý. Người làm báo, viết sách, nghiên cứu hay hoạt động xã hội phải được bảo vệ các quyền chính đáng; đồng thời chịu trách nhiệm về hành vi cụ thể. Ngược lại, việc gọi một người là “đối tượng vi phạm” cũng không thể thay thế chứng cứ và phán quyết có thẩm quyền.

Quyền có giới hạn, nhưng giới hạn quyền cũng có giới hạn

Hiến pháp Việt Nam ghi nhận các quyền con người, quyền công dân, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin; đồng thời xác lập nguyên tắc hạn chế quyền chỉ có thể do luật quy định trong những trường hợp cần thiết vì các mục tiêu chính đáng.

Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) bảo vệ quyền giữ quan điểm và tự do biểu đạt; khoản 3 cho phép một số hạn chế khi được pháp luật quy định và cần thiết để tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức công cộng. Điều 20 cấm những hình thức kích động hận thù đạt ngưỡng dẫn tới phân biệt đối xử, thù địch hoặc bạo lực.

Tuy nhiên, việc dẫn yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự không có nghĩa là có thể tùy nghi hạn chế quyền biểu đạt. Bình luận chung số 34 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhấn mạnh, mọi biện pháp hạn chế quyền này phải có căn cứ pháp luật, thực sự cần thiết và tương xứng với mục tiêu bảo vệ.

Nói cách khác, tự do biểu đạt không phải là quyền tuyệt đối, nhưng việc hạn chế quyền cũng phải được đặt trong những giới hạn pháp lý chặt chẽ. Vì vậy, không thể viện dẫn nhân quyền để đòi miễn trách nhiệm cho hành vi vi phạm đã được chứng minh; nhưng cũng không thể viện dẫn an ninh để miễn trừ nghĩa vụ chứng minh vi phạm. Có cáo buộc phải chỉ rõ hành vi; xử lý phải có căn cứ pháp luật; chưa có bản án có hiệu lực phải tôn trọng suy đoán vô tội; hạn chế quyền phải chứng minh sự cần thiết và tương xứng.

Hình thành văn hóa tôn trọng sự thật trên môi trường số

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam mở ra một tầm nhìn rộng hơn. Văn hóa không chỉ là di sản hay nghệ thuật, mà còn là nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết cho sự phát triển. Nghị quyết nhấn mạnh những phẩm chất như trung thực, trách nhiệm, kỷ cương; đề cao văn hóa thượng tôn pháp luật và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cả trong đời sống thực lẫn không gian số.

Các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính. Ảnh: Phạm Thắng

Các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính. Ảnh: Phạm Thắng

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 25/2/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu củng cố “nội lực tinh thần”, tạo nền tảng cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đặt trong môi trường truyền thông số, yêu cầu đó không chỉ dừng ở việc phát hiện, xử lý tin giả, thông tin xuyên tạc hay các tài khoản vi phạm. Quan trọng hơn là hình thành văn hóa tôn trọng sự thật, gắn tự do biểu đạt với trách nhiệm xã hội và ý thức thượng tôn pháp luật. Khi thông tin được kiểm chứng, tranh luận dựa trên dữ kiện và mỗi chủ thể chịu trách nhiệm về nội dung mình công bố, chia sẻ, không gian số mới thực sự trở thành môi trường lành mạnh. Đó cũng là nền tảng để bảo vệ quyền con người, đồng thời ngăn việc lợi dụng các quyền tự do để phát tán thông tin sai lệch.

Theo Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử, trong hai năm 2024 - 2025 có gần 600 quyết định xử phạt liên quan tin giả, tổng số tiền phạt hơn 6 tỷ đồng. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người sử dụng Internet, tương đương 84,2% dân số, cùng khoảng 79 triệu định danh người dùng mạng xã hội. Khi gần như bất kỳ cá nhân nào cũng có thể trở thành “người đưa tin”, thông tin sai có thể lan xa trước khi sự thật kịp được kiểm chứng.

Vì vậy, câu chuyện nhân quyền trên môi trường số không thể chỉ đặt dưới góc độ “được nói” hay “không được nói”. Nó còn liên quan đến quyền của người khác được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền của công chúng được tiếp cận thông tin chính xác; và quyền của xã hội được duy trì một không gian tranh luận không bị thao túng bởi giả mạo, cắt ghép và xuyên tạc.

Không cắt một phần sự thật để tạo ra câu chuyện khác

Sau khi Nghị định số 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trên mạng xã hội xuất hiện nội dung diễn giải rằng người dân có thể bị xử phạt chỉ vì chia sẻ bài báo chính thống. Một số bài đăng cắt một phần quy định, đặt vào bối cảnh khác rồi khuyến nghị người dùng “chặn” các trang báo để tránh bị phạt.

Cơ quan quản lý chuyên ngành sau đó làm rõ rằng việc chia sẻ bài báo theo đúng quy định, dẫn nguồn và đường dẫn tới bài gốc không phải hành vi bị cấm. Vấn đề nằm ở những hành vi cụ thể được pháp luật điều chỉnh, trong đó có việc sử dụng tác phẩm không đúng quy định hoặc cắt ghép, xuyên tạc nội dung.

Đáng lo ngại không chỉ là những thông tin hoàn toàn bịa đặt, mà còn là thủ đoạn cắt xén sự thật, tách dữ kiện khỏi bối cảnh để dẫn dắt nhận thức. Trong vấn đề nhân quyền, nếu hành vi vi phạm và căn cứ pháp lý bị cố tình lược bỏ, một vụ việc xử lý theo pháp luật có thể bị diễn giải thành “xử lý vì phát ngôn”. Sự thật một khi bị cắt xén và đặt sai bối cảnh có thể khiến công chúng hiểu khác hoàn toàn bản chất vụ việc. Phản bác có sức thuyết phục phải dựa trên dữ kiện: văn bản gốc quy định gì, hành vi nào bị điều chỉnh, căn cứ pháp lý và chứng cứ ra sao. Khi bối cảnh được làm rõ, những diễn giải phiến diện sẽ tự mất sức nặng.

Tạo sức đề kháng văn hóa

Nếu chỉ tập trung vào “chống”, xã hội luôn đi sau thông tin sai. Một nội dung giả có thể được tạo trong vài phút, nhân bản bằng trí tuệ nhân tạo và phát tán qua hàng nghìn tài khoản trước khi cơ quan chức năng kịp phản hồi. Bài toán lâu dài là tạo sức đề kháng từ bên trong.

Nếu pháp luật là hàng rào bên ngoài thì văn hóa là giới hạn bên trong. “Sức đề kháng văn hóa” trước thông tin sai lệch có thể hình thành trên ba trụ cột.

Trước hết, minh bạch thông tin. Cơ quan công quyền càng chậm cung cấp dữ liệu, khoảng trống càng dễ bị lấp bởi suy đoán. Những vấn đề có thể công khai cần được giải thích sớm, rõ, có tài liệu gốc và người chịu trách nhiệm trả lời.

Thứ hai, năng lực kiểm chứng của báo chí và công chúng. Báo chí không còn độc quyền phát tin, nhưng vẫn có lợi thế mà mạng xã hội khó thay thế: quy trình kiểm chứng, trách nhiệm pháp lý và khả năng đặt thông tin vào bối cảnh. Một bài báo có giá trị không chỉ trả lời “điều gì xảy ra”, mà còn phải giúp người đọc hiểu “vì sao”, “bằng chứng ở đâu”, “căn cứ nào cho kết luận”.

Thứ ba, văn hóa trách nhiệm. Mỗi lượt chia sẻ cũng là một hành vi truyền thông. Người dùng không thể viện dẫn “tôi chỉ đăng lại” để phủi bỏ hoàn toàn trách nhiệm đối với nội dung mình phát tán, nhất là khi thông tin có dấu hiệu vu khống, giả mạo hoặc gây tổn hại rõ ràng.

Ba trụ cột này cũng bảo vệ nhân quyền thực chất hơn: minh bạch giúp hạn chế khả năng che giấu lạm quyền; kiểm chứng củng cố cơ sở cho tiếng nói phản biện; năng lực nhận diện thao túng giúp công dân ít trở thành nạn nhân của tin giả; còn pháp luật được áp dụng bằng chứng cứ và thủ tục sẽ bảo vệ quyền của tất cả các bên.

Thượng tôn pháp luật để bảo vệ đúng nghĩa quyền con người

Tranh luận về nhân quyền sẽ khó đi tới đâu nếu mỗi bên chỉ bảo vệ một nửa của nguyên tắc. Nếu chỉ nói về tự do mà bỏ qua trách nhiệm, quyền có thể bị biến thành công cụ hợp thức hóa hành vi gây hại. Nếu chỉ nói về kỷ cương mà bỏ qua các bảo đảm pháp lý, pháp luật dễ bị nhìn như công cụ áp đặt.

Tranh cổ động Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11. Nguồn: pbgdpl.moj.gov.vn

Tranh cổ động Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11. Nguồn: pbgdpl.moj.gov.vn

Điểm gặp cần thiết là thượng tôn pháp luật trên nền tảng tôn trọng con người. Mọi người đều có quyền phát biểu, phản biện, sáng tạo, nghiên cứu và bảo vệ quan điểm trong khuôn khổ pháp luật. Nhưng không ai có đặc quyền đứng ngoài trách nhiệm khi cố ý bịa đặt, vu khống, kích động hoặc xâm phạm quyền hợp pháp của người khác. Đồng thời, không ai bị tước các bảo đảm pháp lý chỉ vì quan điểm của mình khác số đông hay khác với cơ quan công quyền.

Vì thế, trước những đánh giá phiến diện về một vụ việc nhân quyền, phản ứng có sức nặng nhất không phải phủ nhận khái niệm nhân quyền. Cần đứng vững trên chính chuẩn mực nhân quyền: làm rõ căn cứ pháp lý; công bố thông tin có thể công bố; chứng minh hành vi bằng chứng cứ; bảo đảm quyền bào chữa, khiếu nại và xét xử công bằng; phân biệt quan điểm với vi phạm; bảo vệ quyền của tất cả các bên.

Nghị quyết 80 đặt văn hóa vào vị trí nguồn lực nội sinh của phát triển. Trong không gian số, nội lực ấy phải biểu hiện bằng một xã hội biết tôn trọng sự thật, biết tranh luận mà không xúc phạm, biết phản biện mà không bịa đặt, biết bảo vệ quyền mà không xóa trách nhiệm.

Tôn trọng quyền con người không phải dung túng mọi hành vi nhân danh tự do. Và chống lại sự giả dối cũng không thể bằng cách thu hẹp tùy tiện những quyền chính đáng. Khi sự thật là điểm tựa, pháp luật là chuẩn mực và văn hóa là sức mạnh tự điều chỉnh, nhân quyền và kỷ cương trở thành hai điều kiện cùng bảo đảm cho một xã hội tự do, có trách nhiệm và đáng tin cậy.

TS. Phạm Văn Tân, TS. Nguyễn Thị Thu Hà - Khoa Luật, Chính trị, Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải; ThS. Đỗ Thị Ngọc Anh - Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực III

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/thuong-ton-phap-luat-ton-trong-quyen-con-nguoi-10427224.html