Tích hợp chương trình phòng, chống ma túy phải bảo đảm hiệu quả thực chất từ cơ sở

Tán thành chủ trương xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026-2035, ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt (TP. Hà Nội) nhấn mạnh, việc tích hợp các chương trình phải tạo ra hiệu quả thực chất, không đơn thuần là cộng gộp danh mục và nguồn vốn. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế chuyển tiếp, tránh trùng lặp nhiệm vụ và nguồn kinh phí; đồng thời bảo đảm phân cấp đi đôi với nhân lực, kinh phí và trách nhiệm giải trình, nhất là tại cấp xã, phường.

Tích hợp chương trình phải gắn với kế thừa và xử lý chuyển tiếp rõ ràng

Phát biểu thảo luận tại Tổ 1 (TP. Hà Nội) về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 - 2035, đại biểu Nguyễn Ngọc Việt tán thành sự cần thiết xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 - 2035. Theo đại biểu, chủ trương tích hợp phù hợp với định hướng tại Kết luận số 56-KL/TW của Bộ Chính trị và yêu cầu kế thừa Nghị quyết số 163/2024/QH15 của Quốc hội. Tuy nhiên, việc tích hợp phải tạo ra hiệu quả thực chất, thay vì chỉ cộng gộp các danh mục và nguồn vốn. Đại biểu đặc biệt quan tâm đến khả năng tổ chức thực hiện tại xã, phường và nêu bảy nhóm vấn đề cần tiếp tục làm rõ.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt (TP. Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt (TP. Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến

Thứ nhất, về tích hợp và xử lý chuyển tiếp, đại biểu thống nhất tích hợp hai nhiệm vụ, nhưng đề nghị phải làm rõ việc kế thừa chương trình phòng, chống ma túy đã được Quốc hội phê duyệt. Cụ thể, Chính phủ cần trình bảng đối chiếu từng dự án, nhiệm vụ và nguồn vốn theo Nghị quyết số 163/2024/QH15 với Chương trình mới, trong đó xác định rõ nội dung giữ nguyên, bổ sung, điều chỉnh hoặc kết thúc; số vốn đã giao, đã giải ngân và phần vốn còn phải thực hiện. Đồng thời, cần quy định rõ cơ quan tiếp nhận từng nhiệm vụ, tài sản và hồ sơ, nhất là đối với hoạt động cai nghiện, tư vấn và hỗ trợ sau cai.

"Việc xử lý chuyển tiếp phải bảo đảm không để gián đoạn dịch vụ, không tính trùng nguồn vốn và không tự động kéo dài những nghĩa vụ chi đã hết thời hạn. Đây cũng là nội dung Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã yêu cầu tại Kết luận số 336", đại biểu Nguyễn Ngọc Việt nhấn mạnh.

Thứ hai, về yêu cầu không trùng lặp với các chương trình khác và chi thường xuyên, đại biểu cho rằng một số nội dung như trợ giúp pháp lý, tuyên truyền pháp luật, phòng ngừa trong trường học, bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở đang có sự giao thoa với nhiều chương trình và nhiệm vụ chi. Do đó, cần rà soát đến từng hoạt động theo bốn tiêu chí: đúng đối tượng, đúng địa bàn, đúng sản phẩm đầu ra và đúng nguồn kinh phí. Một kết quả không được thanh toán hai lần, nhưng các ngành vẫn có thể phối hợp, hỗ trợ những phần việc bổ sung cho nhau.

Theo đại biểu, nguồn vốn của Chương trình cần tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm, tạo ra năng lực tăng thêm, không đưa toàn bộ hoạt động quản lý thường xuyên vào danh mục đầu tư. Đối với hoạt động tại trường học và các đoàn thể, hiệu quả tuyên truyền cần được đánh giá bằng kiến thức, kỹ năng phòng ngừa và khả năng tiếp cận hỗ trợ của người dân, thay vì chỉ căn cứ vào số buổi tổ chức.

Hoàn thiện mục tiêu, chỉ tiêu gắn với khả năng kiểm chứng

Thứ ba, về mục tiêu, chỉ tiêu tại khoản 1 Điều 1, đại biểu đề nghị rà soát, bảo đảm thống nhất với Nghị quyết số 34/2026/QH16, trong đó có mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 50% địa bàn cấp xã và 20% địa bàn cấp tỉnh không có ma túy. Để bảo đảm tính thực chất, cần xây dựng tiêu chí công nhận, tái đánh giá và kiểm chứng độc lập; không để áp lực thành tích dẫn đến việc giảm ghi nhận vụ việc hoặc hạn chế tiếp nhận tố giác. Theo đại biểu, chỉ tiêu giảm tội phạm phải đi đôi với chất lượng xử lý tin báo và mức độ an toàn của người dân.

Đối với chỉ tiêu nhận diện 100% băng nhóm tội phạm, đại biểu cho rằng dự thảo chưa xác định rõ mẫu số, bởi không thể biết trước toàn bộ số băng nhóm đang tồn tại. Vì vậy, cần chuyển thành yêu cầu xử lý, cập nhật hồ sơ đối với các băng nhóm đã được phát hiện theo những tiêu chí xác định rõ ràng.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến

Về giám sát điện tử, đại biểu đề nghị phân biệt giữa biện pháp đã có căn cứ trong pháp luật tư pháp người chưa thành niên với đề xuất áp dụng đối với người chấp hành án hình sự tại cộng đồng. Báo cáo thẩm tra đã nêu pháp luật thi hành án hình sự hiện hành chưa quy định biện pháp này đối với nhóm đối tượng sau. Do đó, chỉ nên đặt chỉ tiêu áp dụng khi đã có cơ sở luật định, điều kiện kỹ thuật, cơ chế bảo vệ dữ liệu và quyền khiếu nại; không lấy mục tiêu đầu tư để đi trước thẩm quyền pháp luật.

Thứ tư, về phạm vi và thời gian thực hiện tại khoản 2 Điều 1, đại biểu tán thành triển khai Chương trình trên phạm vi cả nước trong 10 năm, chia thành hai giai đoạn 2026–2030 và 2031–2035. Tuy nhiên, nếu Quốc hội quyết định chủ trương cho cả giai đoạn 10 năm thì các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2035 cần được xác định đủ rõ ngay trong Nghị quyết. Việc sơ kết vào năm 2030 không đồng nghĩa với việc giao quyền sửa đổi những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Đối với kinh phí dự kiến 18.151,758 tỷ đồng cho giai đoạn 2031–2035, đại biểu đề nghị thuyết minh rõ và phân biệt với phần vốn đã được quyết định, phân bổ.

Phân bổ vốn theo đặc thù địa bàn, bảo đảm khả năng thực hiện

Thứ năm, về kinh phí và tiêu chí phân bổ tại khoản 3, khoản 4 Điều 1, đại biểu cho biết hồ sơ dự kiến tổng kinh phí 45.301,261 tỷ đồng trong giai đoạn 2026–2030, trong đó 22.450,194 tỷ đồng thuộc chủ trương đã được phê duyệt và 22.851,067 tỷ đồng là phần đề nghị bổ sung.

Từ đó, đại biểu đề nghị giải trình rõ khả năng cân đối nguồn vốn, nhất là ngân sách trung ương; làm rõ lý do vốn tập trung cao vào các năm 2027–2028 và đánh giá sát năng lực giải ngân thực tế. Cùng với đó, cần xây dựng phương án ưu tiên, giãn tiến độ trong trường hợp thiếu vốn; tính đủ chi phí nhân lực, vận hành, bảo trì và thay thế trang thiết bị sau đầu tư. Tránh tình trạng có công trình, thiết bị nhưng không có kinh phí để sử dụng bền vững.

Về nguyên tắc phân bổ, đại biểu cho rằng không nên chia vốn bình quân theo số lượng đơn vị hành chính. Việc phân bổ cần căn cứ vào mức độ phức tạp của tình hình tội phạm, ma túy; quy mô dân số và các nhóm có nguy cơ; khả năng tiếp cận dịch vụ; năng lực ngân sách và kết quả thực hiện.

"Đặc biệt, cần ưu tiên các địa bàn trọng điểm, biên giới, địa bàn khó khăn; đồng thời tính đến áp lực dân số, tính liên thông của tội phạm và tải công việc tại các đô thị lớn. Đây là những yếu tố quan trọng để nguồn lực được bố trí đúng nơi, đúng nhu cầu và phát huy hiệu quả thực tế", ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt phân tích.

Thứ sáu, về cơ chế đặc thù tại khoản 6 Điều 1, đại biểu ủng hộ chủ trương phân cấp, nhưng đề nghị phân biệt rõ ba loại thẩm quyền: điều chỉnh dự toán chi ngân sách; điều chỉnh kế hoạch vốn hoặc danh mục đầu tư công; và điều chỉnh chủ trương đầu tư do Quốc hội quyết định. Đây là những thẩm quyền khác nhau, không thể quy định chung bằng một điều khoản mở.

Do đó, cần xác định cụ thể phạm vi, điều kiện, giới hạn và cơ quan có thẩm quyền quyết định; bảo đảm thủ tục rút gọn không trở thành cách thức vượt thẩm quyền được quy định trong luật.

"Đặc biệt, khi giao quyền cho xã, phường, phải đồng thời giao đủ nhân lực, dữ liệu, kinh phí quản lý và xác định rõ trách nhiệm giải trình. Việc phân cấp cũng phải gắn với cơ chế giám sát của Hội đồng nhân dân, thanh tra và kiểm toán, không để cấp cơ sở vừa phải gánh trách nhiệm, vừa thiếu công cụ và nguồn lực thực hiện", đại biểu Nguyễn Ngọc Việt nhấn mạnh.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Việt tán thành chủ trương tích hợp các chương trình, đồng thời đề nghị hoàn thiện ba nội dung trước khi thông qua Nghị quyết: xây dựng bảng chuyển tiếp từ Nghị quyết số 163/2024/QH15; lập bảng đối chiếu chỉ tiêu, nhiệm vụ và nguồn vốn để tránh trùng lặp; xác định rõ giới hạn phân cấp, điều chỉnh gắn với trách nhiệm giám sát. Theo đại biểu, điều quan trọng nhất là khi Nghị quyết đi vào cuộc sống, cấp xã phải thực sự triển khai được nhiệm vụ, người dân được bảo đảm an toàn hơn và từng đồng ngân sách được sử dụng hiệu quả, có kết quả đo lường cụ thể.

Triển khai tại Hà Nội phải gắn với cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô

Thứ bảy, về tổ chức thực hiện tại Hà Nội gắn với Điều 14 Luật Thủ đô, đại biểu cho biết Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026 đã trao cho Hà Nội một số thẩm quyền đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và quản lý hành chính. Thành phố cần khai thác đúng các thẩm quyền này để tăng cường phòng ngừa từ cơ sở, nhưng không thể coi đó là căn cứ để tự mở rộng các biện pháp tố tụng hình sự hoặc hạn chế quyền công dân ngoài quy định của pháp luật.

Đại biểu đề nghị quy định rõ cơ chế phối hợp giữa Bộ Công an, các bộ, ngành với thành phố trong xác định địa bàn trọng điểm, chia sẻ dữ liệu, tổ chức lực lượng, phân định trách nhiệm và bố trí nguồn kinh phí; tránh xây dựng hệ thống của địa phương trùng lặp với hạ tầng trung ương. Việc ứng dụng công nghệ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu và kiểm soát quyền truy cập.

Từ thực tiễn Hà Nội, đại biểu lưu ý điều kiện quản trị tại khu vực nội đô đông dân và vùng ngoại thành rộng có sự khác biệt lớn, vì vậy không thể áp dụng một phương thức phân bổ nguồn lực và đánh giá giống nhau cho tất cả xã, phường. Cấp cơ sở cần được hỗ trợ để phối hợp với nhà trường, tổ dân phố và các đoàn thể trong phòng ngừa tội phạm mạng, xây dựng địa bàn không có ma túy, hỗ trợ người bị hại và người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, các hoạt động nghiệp vụ vẫn phải thuộc thẩm quyền của cơ quan có trách nhiệm.

Đại biểu đề nghị Hà Nội xây dựng kế hoạch triển khai thống nhất, phân định rõ ngân sách Chương trình với ngân sách Thành phố. Hội đồng nhân dân Thành phố và HĐND cấp xã cần giám sát dựa trên kết quả bảo đảm an toàn, chất lượng tiếp nhận tố giác, khả năng tiếp cận dịch vụ và hiệu quả chi tiêu, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng thiết bị mua sắm hoặc tỷ lệ giải ngân.

Phi Long

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tich-hop-chuong-trinh-phong-chong-ma-tuy-phai-bao-dam-hieu-qua-thuc-chat-tu-co-so-10442042.html