Tiếng Dân và ba điều tâm nguyện
Trong gần hai mươi năm hoạt động báo chí, Huỳnh Thúc Kháng để lại dấu ấn sâu đậm với tư cách một nhà báo lớn, một nhà ngôn luận xuất sắc.

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Nghĩa Hành (Quảng Ngãi). Ảnh: VĂN CHƯƠNG
Trong bài viết công bố khi chuẩn bị xuất bản Tiếng Dân, Huỳnh Thúc Kháng đã nêu ba điều tâm nguyện lớn đối với tờ báo, được xem như kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động của Tiếng Dân trong suốt 16 năm tồn tại.
Khát vọng khai mở diễn đàn công khai cho dân tộc
Lời phát nguyện đầu tiên của Huỳnh Thúc Kháng là quyết tâm cho ra đời một tờ báo quốc ngữ ở Trung Kỳ, giữa kinh đô Huế, dù phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thậm chí “ra được vài số rồi đình bản cũng cam lòng”.
Sau thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20, đặc biệt chịu ảnh hưởng của phong trào Duy tân, Huỳnh Thúc Kháng nhận ra, muốn chấn hưng dân tộc trước hết phải khai mở dân trí. Muốn khai mở dân trí cần có diễn đàn công khai để truyền bá tư tưởng tiến bộ, phản ánh đời sống xã hội và kết nối tiếng nói của nhân dân.
Từ “Tiếng Dân” được cụ Huỳnh giải thích trên tờ La tribune Indochinoise, Tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp tại Sài Gòn, Nam Kỳ thời kỳ thực dân Pháp, số ra ngày 24/12/1926: “Đó là sự vui mừng, sự buồn tủi và sự chờ đợi ấp ủ trong lòng hàng triệu đồng bào. Dân là đầu mối của nước. Tiếng Dân đi sát với những vấn đề trong nước. Nếu chánh phủ biết rõ những nguyện vọng sâu xa của dân thì cần gì đối xử bất công với Tiếng Dân như đã từng đối xử với vài tờ báo đã ra mắt gần đây và đã bị đóng cửa. Tờ báo này thật xứng đáng để mang tên là Tiếng Dân, vì trong thực tế, phải nhờ đến báo chí thì Tiếng Dân mới bộc lộ ra được”.
Trong suốt 16 năm tồn tại, Tiếng Dân xuất bản 1.766 số báo, trở thành một trong những tờ báo có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Kỳ và cả nước. Điều đó cho thấy phát nguyện đầu tiên không chỉ là khát vọng cá nhân mà còn đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội đương thời về một tiếng nói đại diện cho quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân.
Làm báo vì quốc dân
Nếu phát nguyện thứ nhất thể hiện tinh thần dấn thân thì điều thứ hai thể hiện rõ mục đích cao cả của nghề báo. Huỳnh Thúc Kháng xác định việc xuất bản Tiếng Dân không nhằm mưu cầu danh vọng hay lợi ích riêng mà để phục vụ quốc dân. Cụ nói rằng “Theo thuyết chánh danh của Khổng Tử, làm đúng như tên “Tiếng Dân”, thà chết, quyết không để cho cái gì lay chuyển hay lôi kéo đi đường khác”.
Để cứu nước phải bắt đầu từ việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng dân khí và cải thiện dân sinh. Báo chí chính là công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu đó.
Nội dung của Tiếng Dân phản ánh rất rõ tinh thần phụng sự nhân dân. Tờ báo dành nhiều bài viết cho các vấn đề giáo dục, kinh tế, đạo đức xã hội, cải cách hành chính, phát triển sản xuất, đời sống người lao động và quyền lợi của người dân. Nhiều vấn đề tưởng chừng bình thường nhưng lại gắn trực tiếp với vận mệnh đất nước được đặt ra một cách thẳng thắn và có trách nhiệm.
Huỳnh Thúc Kháng từng xác định: “Mục đích của bản báo là theo tâm lý chân chính của quốc dân mà phô bày trên tờ giấy, cốt giữ gìn cái nền đạo đức sẵn có của ông bà, mà dung hợp với học thuật tư tưởng mới, để mở mang đường trí thức, đường kinh tế trong nước... Đối với đồng bào xin làm vị thuốc đắng, mong rằng bỏ lòng ghen ghét mà dốc dạ thương yêu; đối với Chính phủ xin làm người bạn ngay, mong rằng theo trình độ dân mà thật lòng cải cách”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng với tờ báo "Tiếng Dân". Ảnh tư liệu
Tôn chỉ báo chí của Huỳnh Thúc Kháng là dùng ngòi bút để phụng sự quốc dân, khai mở dân trí, bảo vệ lẽ phải và giữ vững khí tiết của người làm báo trước mọi áp lực của thời cuộc. Quan niệm ấy thể hiện một tầm nhìn tiến bộ về vai trò phản biện xã hội của báo chí, điều vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.
Giữ khí tiết người cầm bút
Lời phát nguyện thứ ba là giữ vững khí tiết, không khuất phục trước bất kỳ sức ép nào. Đây có lẽ là phát nguyện khó thực hiện nhất, nhưng cũng là điều Huỳnh Thúc Kháng đã chứng minh bằng cả cuộc đời mình.
Lời mở đầu của Tiếng Dân số 1 được xem như bản tuyên ngôn về tự do ngôn luận, về cái đích vươn tới của người lĩnh trọng trách cầm bút. Cụ viết: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”. Đó là quyền không ai, không thế lực nào được phép cấm đoán, nhưng không phải người cầm bút nào cũng xác định được như thế.
Cũng trên Tiếng Dân ra ngày 1/5/1929, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục khẳng định: “Tôi là nhà cách mạng công khai, tôi đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam một cách công khai. Vì đất nước Việt Nam có biên cương và lãnh thổ công khai trên bản đồ thế giới. Cho nên, tôi cũng công khai nói lên tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ. Do đó, tôi thách đố mọi trừng phạt và hiểm nguy đến với cá nhân tôi”.
Trong thời gian tồn tại, dưới chế độ thuộc địa liên tục đối mặt với sự kiểm duyệt, nhiều bài viết bị cắt bỏ, nhiều số báo bị cảnh cáo hoặc tịch thu. Nhưng, Huỳnh Thúc Kháng vẫn kiên trì giữ vững lập trường yêu nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tieng-dan-va-ba-dieu-tam-nguyen-3340978.html











