Tiếng 'núi lam xanh sương đêm vừa gội'

Người Thái có câu: 'Tiếng khèn làm đẹp bản Mường/ Như nắng dệt gấm trên quê hương/ Như núi lam xanh sương đêm vừa gội/ Như suối hát tình ca/ Như tiếng người yêu gọi...'. Và khi sắc xuân còn tươi mới, tiếng khèn tha thiết trên khắp nẻo biên cương làm bừng sáng những bản làng. Phải chăng vì người Thái quan niệm chiếc khèn bè là nhạc cụ kết tinh của tình yêu, để các chàng trai Thái nương theo tiếng khèn mà tìm được người con gái vừa ý, còn cô gái Thái nhận ra tiếng khèn nào đang gõ cửa trái tim mình.

Các nghệ nhân dân gian của Câu lạc bộ Văn hóa Thái, xã Hùng Chân, tỉnh Nghệ An tập luyện khèn bè. Ảnh: Đình Tuyên

Các nghệ nhân dân gian của Câu lạc bộ Văn hóa Thái, xã Hùng Chân, tỉnh Nghệ An tập luyện khèn bè. Ảnh: Đình Tuyên

Triết lý ấy của dân tộc Thái có nguồn gốc từ một câu chuyện cổ đã lưu truyền qua hàng trăm mùa măng trên núi. Hẳn nhiên, truyện cổ thì phải có câu mở đầu là “ngày xửa ngày xưa”... Xưa có chàng trai họ Lò nghèo, nhân hậu và có tài thổi sáo hay đến xao xuyến lòng người. Con gái một Tạo bản giàu có trong vùng nghe tiếng sáo mà yêu chàng tha thiết. Tạo bản giận lắm vì cho rằng con gái đã làm mất thanh danh gia thế, bèn nhốt con gái trong buồng, đợi ngày lành tháng tốt sẽ gả cho một người giàu có.

Từ buồng kín, cô gái nhờ người gửi lại cho người yêu gói sáp ong đá đã in dấu tay của nàng mỗi khi kéo sợi. Nhận kỷ vật cuối cùng của người yêu, chàng trai buồn bã bỏ bản ra đi. Sau nhiều ngày lang thang, chàng dừng chân bên một dòng suối và nảy ra ý định làm một cây sáo để thổi cho thỏa nỗi lòng. Chàng chọn lấy từng dóng nứa mọc bên bờ suối rồi dùng dây rừng bó lại và lấy sáp ong người yêu tặng bịt kín các kẽ hở giữa các ống sáo. Khi thổi, lạ thay, cây sáo bè có tiếng to, nhỏ, cao, thấp khác nhau theo các ngón tay bấm, khiến chàng trai mê mải truyền hơi vào lòng nứa đến quên ăn, quên ngủ. Rồi người ta tìm thấy chàng đã chết khô bên bờ suối, tay vẫn nắm chặt chiếc khèn. Từ đó, cây khèn của chàng trai nghèo họ Lò được bạn bè bắt chước làm theo và tồn tại cho đến tận bây giờ.

Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã chỉ ra rằng khèn của người Thái có xuất xứ từ nước bạn Lào, sau đó được đưa về vùng Mường Lò (Yên Bái cũ, nay là tỉnh Lào Cai) của nước ta. Khác với khèn Mông làm bằng nứa to hoặc trúc, khèn bè của người Thái được làm bằng nứa tép (tiếng Thái gọi là Mạy pao), với 14 ống được ghép lại thành từng đôi trên một bầu bằng gỗ thừng mực. Sau khi ghép, người nghệ nhân làm khèn khéo léo dùi 12 lỗ bấm đối xứng và khoét các lỗ thoát hơi trên các ống nứa với các kích cỡ khác nhau ở những vị trí thích hợp. Bầu khèn làm bằng gỗ, một đầu khoét thủng để thổi, một đầu bịt kín bằng sáp ong để tạo ra âm thanh cho khèn. Việc chế tác khèn bè không hề đơn giản, bởi nó đòi hỏi đôi tay khéo léo và khả năng thẩm âm cao.

Ở phương diện nào đó, khèn bè của dân tộc Thái không chỉ là nhạc cụ mang lại thanh âm réo rắt đến tuyệt vời mà còn là một tác phẩm nghệ thuật kết tinh giữa vật liệu của thiên nhiên và sự sáng tạo, tình yêu nghệ thuật của người nghệ sĩ. Được biết, cả vùng Mường Lò bây giờ chỉ có nghệ nhân Cầm Văn Ngoan ở bản Viềng Công, xã Hạnh Sơn, huyện Văn Chấn cũ (nay là phường Cầu Thía, tỉnh Lào Cai) là có khả năng chế tác một chiếc khèn bè hoàn hảo. Đôi khi, những nghệ nhân thổi khèn hay những chàng trai bản muốn sở hữu loại nhạc cụ này thường phải đặt làm rất kỳ công hoặc gửi người thân mua từ Lào mang về.

Điều thú vị là ở khèn bè Thái có những âm thanh sóng đôi như: Lả-lá, hai nốt rế, hai nốt son, đồ-đố, phà-phá, mà các nghệ nhân gọi là pò mè-tức là bố mẹ. Niêm luật này được quy định như một “chuẩn âm” cho khèn, dẫu là người Thái ở Việt Nam hay người Thái ở Lào thổi nó. Bởi vậy, mỗi khi tiếng khèn bè cất lên, người nghe thấy da diết, sâu lắng như lời tâm tình yêu đương cháy bỏng. Qua tiếng khèn, triết lý âm dương, sự sinh sôi phát triển của thiên nhiên và con người được thể hiện giản dị mà tinh tế.

Nói tiếng khèn là lời tình yêu là bởi người ta có thể hình dung qua câu chuyện của người già như thế này: Mỗi đêm, khi các bản làng người Thái cổ dần chìm vào giấc ngủ thì cũng là lúc các chàng trai cắp trên tay chiếc khèn tìm đến nhà cô gái mà mình thầm thương nhớ. Rồi cứ đứng trước cổng trong sương giá cả đêm để thể hiện các kỹ thuật thổi khèn điêu luyện. Kỹ thuật thổi khèn bè được truyền lại từ những người cao tuổi, song mỗi chàng trai lại có những sáng tạo riêng cho tiếng khèn bè của mình, khiến cô gái có thể dễ dàng nhận ra anh ta ngay cả khi khắp nơi rộn rã tiếng tỏ tình.

Chiếc khèn bè lớn nhất Việt Nam có chiều cao 5,2m, rộng 2,0m, bằng chất liệu gỗ, tre, nứa, đồng..., được trao Bằng xác lập và Biểu tượng Kỷ lục Việt Nam năm 2020. Ảnh: Đình Tuyên

Chiếc khèn bè lớn nhất Việt Nam có chiều cao 5,2m, rộng 2,0m, bằng chất liệu gỗ, tre, nứa, đồng..., được trao Bằng xác lập và Biểu tượng Kỷ lục Việt Nam năm 2020. Ảnh: Đình Tuyên

Tôi đã nghe những người Thái gốc Việt ở bản Na Pê, huyện Căm Cớt, tỉnh Bôlykhămsay, Lào ngân nga giai điệu bài hát “Tình Việt Lào anh em” của nhạc sĩ Hồ Hữu Thới bằng khèn bè. Dẫu không sôi nổi, rộn ràng như khi được hòa âm, phối khí bằng các nhạc cụ hiện đại, nhưng nhịp múa hát vui chung của những người con đất Việt xa quê và những người lính Biên phòng làm nhiệm vụ trên đất bạn Lào lại hứng khởi và đáng yêu hơn bao giờ hết.

Nhớ lại chuyến công tác Sơn La năm 2024, nghe tiếng khèn cất lên trong đêm hội mừng năm mới, ai cũng chênh chao trong một cảm giác khó tả. Chàng trai có đôi mắt ướt rượt, Vi Ma Lử, đến từ xã Lóng Phiêng, tỉnh Sơn La xa xôi, rục khèn đắm đuối: "Dậy đi em! Dậy đi em!/ Anh hồi hộp nâng khèn/ Trăng vàng sóng sánh/ Đầu khèn chạm vào hò hẹn/ Sao hôm đậu xuống mái nhà/ Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa/ Đầu khèn chạm vào đợi chờ/ Sao mai lung linh cửa sổ/ Đầu khèn chạm vào nỗi nhớ/ Trăng neo khau cút bâng khuâng/ Em như nàng tiên mùa xuân/ Bước ra từ câu khắp...".

Giữa loang loáng thanh âm, màu sắc ấy, tôi tự hỏi không rõ có phải vì cảm thương trước mối tình ngang trái của đôi trai gái hay bởi thanh âm ngũ cung và một quãng tám của khèn bè có thể diễn tả được hầu hết các điệu dân ca và làm nền cho các điệu dân vũ, mà khèn bè có một vị trí vô cùng quan trọng, là nhạc cụ chủ đạo và là biểu tượng độc đáo của âm nhạc dân tộc Thái. Không ít nghệ nhân, nhà nghiên cứu văn hóa đã từng gọi khèn bè là “hồn nhạc dân ca, dân vũ Thái”.

Trong cuộc sống hiện đại, nhiều nhạc cụ dân tộc nói chung và nhạc cụ của các dân tộc thiểu số nói riêng dần mất đi vị thế trong đời sống văn hóa cộng đồng. Khèn bè cũng không ngoại lệ. Nhưng tôi tin rằng loại nhạc cụ được xem là một biểu tượng cho sự gắn kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh đoàn kết của những con người trong bản Thái sẽ luôn còn mãi với thời gian.

Phạm Vân Anh

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/tieng-nui-lam-xanh-suong-dem-vua-goi-post501539.html