Tiết kiệm năng lượng trong sản xuất: khi cơ hội chưa tìm được nguồn lực thực thi

Cơ hội tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải cho doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp ở Việt Nam được nhận định là không hề nhỏ. Tuy nhiên, điểm nghẽn vốn cùng năng lực phát triển dự án là những 'rào cản' khiến cơ hội này không phải đơn vị nào cũng có thể đáp ứng.

Để sản xuất 1 tấn thép tiêu tốn 685 kWh điện. Trong ảnh ông Đào Duy Tuấn Hùng, Phó tổng giám đốc quản lý chất lượng Công ty TNHH Thép Tây Đô (bìa trái) trao đổi với chuyên gia chương trình VAS. Ảnh: Trung Chánh

Để sản xuất 1 tấn thép tiêu tốn 685 kWh điện. Trong ảnh ông Đào Duy Tuấn Hùng, Phó tổng giám đốc quản lý chất lượng Công ty TNHH Thép Tây Đô (bìa trái) trao đổi với chuyên gia chương trình VAS. Ảnh: Trung Chánh

Cơ hội từ những giải pháp “nhìn thấy được”

Trao đổi với KTSG Online, ông Đào Duy Tuấn Hùng, Phó tổng giám đốc quản lý chất lượng Công ty TNHH Thép Tây Đô, cho biết tổng công suất thiết bị của đơn vị này khoảng 60 MW, phản ánh quy mô sử dụng năng lượng rất lớn.

Chính vì vậy, bài toán tối ưu chi phí năng lượng luôn được doanh nghiệp đặt ra từ sớm, nhất là sau khi tham gia chương trình thỏa thuận tự nguyện thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng (VAS). Nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả được phổ biến rộng rãi đến toàn bộ cán bộ công nhân viên.

Theo ông Hùng, thông qua hỗ trợ kỹ thuật từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về tiết kiệm năng lượng (Enerteam), Thép Tây Đô đã xác định được nhiều khâu tiêu tốn năng lượng trong quy trình sản xuất và thực hiện điều chỉnh ở một số hạng mục để cải thiện.

Cụ thể, doanh nghiệp đã chuyển đổi 3 xe công trình từ sử dụng dầu diesel sang xe điện trong năm 2025, giúp tiết kiệm khoảng 9.000 lít dầu mỗi năm, tương đương giảm 24 tấn CO2/năm. “Chúng tôi sẽ tiếp tục chuyển đổi thêm 10 xe trong năm nay”, ông Hùng cho biết.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái diện tích 14.000 m2, công suất gần 2 MWp, sản xuất khoảng 2,5 triệu kWh điện mỗi năm.

Song song đó, dùng vật liệu cách nhiệt (bảo ôn) để giảm mất nhiệt cho phôi thép sau khi đúc đồng thời tăng nhiệt độ phôi đầu vào cho hệ thống cán thép bằng việc tận dụng nguồn nhiệt sẵn có từ quy trình đúc. Điều này giúp giảm dòng điện khởi động và lượng điện tiêu thụ trên các động cơ.

Nhờ các giải pháp đã thực hiện, mức tiêu hao điện năng giảm khoảng 2% mỗi năm. Trong đó, riêng năm 2025, mức tiêu thụ điện khoảng 15 GWh mỗi tháng, tương đương chi phí khoảng 30 tỉ đồng, bình quân giảm 2,4% mỗi tháng, giúp tiết kiệm nhiều tỉ đồng tiền điện so với năm trước.

Với lĩnh vực công nghiệp chế biến thủy sản, vốn là thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long khi tập trung rất nhiều nhiều doanh nghiệp tham gia thì điện năng tiêu thụ chủ yếu nằm ở khâu bảo quản lạnh.

Trao đổi với KTSG Online, ông Phạm Bảo Quốc, Phó giám đốc Công ty cổ phần thủy sản Nha Trang (NTSF), cho biết doanh nghiệp tiêu thụ hơn 2 triệu kWh điện mỗi tháng. Trong đó, riêng khâu cấp đông chiếm 50-60% tổng tiêu thụ.

Sau khi thực hiện kiểm toán năng lượng, doanh nghiệp đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể. Trong đó, áp dụng chuyển đổi một phần hệ thống kho lạnh từ chạy bằng gas R22 sang Amoniac (NH3) hiệu suất cao, giúp giảm khoảng 16% điện năng tiêu thụ.

Ngoài ra, NTSF đang nâng cấp 50% công suất hệ thống cấp đông từ thiết bị cũ sang thế hệ thiết bị mới hiệu suất cao, có thể giảm 10-12% điện năng. Doanh nghiệp cũng chuẩn bị đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái khoảng 3 MWp.

Theo ông Quốc, trước khi nhận được hỗ trợ từ chương trình VAS, công ty đã có dữ liệu kiểm kê tiêu thụ năng lượng. Tuy nhiên, bộ dữ liệu này “chỉ dừng lại ở những con số gần như chưa biết nói”, do thiếu năng lực phân tích và tư vấn chuyên sâu.

Ở quy mô rộng hơn, các chuyên gia từ chương trình VAS cho biết tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp Việt Nam là rất lớn.

Ông Rahul Dusa, Cố vấn đặc biệt, đại diện Cơ quan năng lượng Đan Mạch, cho biết thông qua làm việc với 21 doanh nghiệp thuộc 13 ngành công nghiệp, đã xác định được 236 dự án tiềm năng. Nếu được triển khai toàn bộ, các dự án này có thể tiết kiệm hơn 315 GWh mỗi năm, tương đương mức tiêu thụ điện của khoảng 70.000 hộ gia đình. Đòng thời ước tính lượng giảm phát thải lên tới hơn 134.000 tấn CO2 mỗi năm.

Bảo quản lạnh là khâu tiêu tốn năng lượng lớn nhất của các nhà máy thủy sản. Ảnh: Trung Chánh

Bảo quản lạnh là khâu tiêu tốn năng lượng lớn nhất của các nhà máy thủy sản. Ảnh: Trung Chánh

“Rào cản” tài chính và năng lực triển khai

Dù tiềm năng lớn và giải pháp đã được xác định nhưng việc triển khai để cụ thể hóa cơ hội, không phải đơn vị nào cũng có thể đáp ứng.

Ông Hùng của Thép Tây Đô cho biết, một trong những rào cản lớn là chi phí đầu tư và thời gian hoàn vốn. Chẳng hạn, giải pháp tận dụng nhiệt thải trong sản xuất thép được đánh giá có tiềm năng cao nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thể triển khai triệt để.

“Chúng tôi đã mời nhiều chuyên gia đến làm việc để tận dụng nhiệt thải quay lại quy trình sản xuất nhưng phần lớn cho rằng không khả thi do mức đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn quá dài”, ông dẫn chứng.

Tương tự, việc thay thế thiết bị cũ bằng thiết bị mới hiệu suất cao cũng không hề dễ dàng vì với hệ thống có tổng công suất lên tới 60 MW, chi phí đầu tư là rất lớn. “Nếu thiết bị cũ giá 1 đồng, thì thiết bị mới có thể lên tới 1,3 đồng. Với quy mô lớn như vậy, doanh nghiệp phải có lộ trình dài để khấu hao rồi mới đầu tư mới”, ông cho biết.

Ở lĩnh vực thủy sản, bài toán tài chính cũng là trở ngại đáng kể khi các dự án nâng cấp hệ thống cấp đông hay đầu tư điện mặt trời đều cần nguồn vốn lớn, không phải đơn vị nào cũng sẵn sàng đầu tư.

“Về đầu tư máy móc thiết bị mới do cần số tiền quá lớn, trong khi thời gian hoàn vốn kéo dài nên phải được xem xét kỹ”, ông Bảo dẫn chứng và cho biết, riêng với NTSF, nội dung này đã được thông qua nhưng phần hệ thống cấp đông còn lại vẫn chưa chuyển đổi kịp như kế hoạch do vấn đề vốn.

Theo các chuyên gia, một rào cản lớn hơn không nằm ở thiếu ý tưởng, mà ở năng lực phát triển dự án. Ông Rahul Dusa, nhận định “Chúng ta không thiếu ý tưởng, mà thiếu năng lực để phát triển ý tưởng thành dự án hoàn chỉnh, có thể thuyết phục được các tổ chức tài chính”.

Thực tế cho thấy nhiều báo cáo kiểm toán năng lượng đưa ra hàng loạt giải pháp, nhưng số dự án được triển khai lại khá hạn chế. Trong đó, nguyên nhân là các phân tích kỹ thuật và tài chính chưa đủ sâu, khiến doanh nghiệp chưa đủ cơ sở để ra quyết định đầu tư hoặc tiếp cận nguồn vốn.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 và duy trì tăng trưởng kinh tế cao thì áp lực về năng lượng ngày càng lớn. Tuy nhiên, một “lỗ hổng” lớn hiện nay là thiếu nguồn nhân lực và công cụ để phát triển các dự án có tính kỹ thuật và tài chính phức tạp. Điều này khiến nhiều cơ hội tiết kiệm năng lượng chưa thể chuyển hóa thành hiện thực.

Từ thực tế doanh nghiệp và góc nhìn chuyên gia, có thể thấy tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam là một cơ hội lớn. Nhưng để biến thành kết quả cụ thể, cần những “đòn bẩy” mạnh hơn, từ hỗ trợ tài chính đến nâng cao năng lực phát triển dự án.

Nếu không tháo gỡ được nút thắt này, hàng trăm GWh điện có thể tiết kiệm mỗi năm được chỉ ra sẽ tiếp tục nằm trên giấy, trong khi áp lực về chi phí năng lượng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng gia tăng, nhất là với các ngành có sản phẩm xuất khẩu đi những thị trường yêu cầu cao về sản xuất bền vững.

Trung Chánh

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/tiet-kiem-nang-luong-trong-san-xuat-khi-co-hoi-chua-tim-duoc-nguon-luc-thuc-thi/