Tìm 'đòn bẩy' công nghệ chiến lược cho ngành Công Thương

Trước yêu cầu hiện thực hóa Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Bộ Công Thương đang khẩn trương xác định các công nghệ và sản phẩm chiến lược. Tọa đàm ngày 25/3 không chỉ là diễn đàn góp ý, mà còn là bước 'lọc' quan trọng để lựa chọn những hướng đi có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, hình thành năng lực tự chủ và nâng tầm công nghiệp Việt Nam.

Ngày 25/3, Bộ Công Thương đã tổ chức Tọa đàm “Xây dựng Chương trình Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực Công Thương nhằm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Tọa đàm có sự tham dự của đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghiệp thực phẩm, da giày, giấy, phát triển nguồn gen…

Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Chính phủ đã ban hành Quyết định 1131/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, cùng Quyết định 2815/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công Thương, các định hướng này vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu, chưa hình thành được hệ sinh thái công nghệ chiến lược đủ mạnh để tạo ra tác động lan tỏa trên quy mô quốc gia.

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) mong muốn các nhà khoa học, các chuyên gia đóng góp nhiều ý kiến

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) mong muốn các nhà khoa học, các chuyên gia đóng góp nhiều ý kiến

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) nhấn mạnh rằng, việc lựa chọn công nghệ chiến lược không thể dừng ở việc liệt kê mà phải dựa trên những tiêu chí rất cụ thể, gắn chặt với bài toán thực tiễn của ngành. Theo đó, một công nghệ chỉ được coi là chiến lược khi đồng thời giải được bài toán lớn của ngành, có doanh nghiệp tham gia triển khai, có thị trường rõ ràng và có khả năng hình thành chuỗi giá trị cũng như năng lực làm chủ.

Bà Giang cho biết, Tọa đàm được tổ chức nhằm trả lời một loạt câu hỏi cốt lõi: đâu là bài toán lớn nhất của ngành Công Thương hiện nay, khâu nào trong chuỗi giá trị tạo ra giá trị gia tăng cao nhất, doanh nghiệp nào có thể đóng vai trò dẫn dắt, công nghệ đã đạt đến mức độ nào và đã có doanh nghiệp triển khai hay chưa. Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương sẽ tổng hợp, đề xuất danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược của ngành Công Thương, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 4/2026.

Theo định hướng, danh mục này sẽ được cấu trúc thành hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất là các công nghệ thuộc những ngành, lĩnh vực đã có thị trường và có thể tạo tác động trực tiếp, rõ rệt trong ngắn hạn như nông - lâm - thủy sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, vật liệu, năng lượng. Nhóm thứ hai là các công nghệ nền tảng, có khả năng tạo động lực tăng trưởng mới, bảo đảm tự chủ trong các lĩnh vực quan trọng như an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng và các ngành công nghiệp tương lai.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận lần này đặt trọng tâm vào năng lực sản xuất thực, thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu. Các công nghệ được đề xuất phải gắn với khả năng làm chủ thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống, làm chủ thiết bị, vật liệu, linh kiện, nguyên phụ liệu cốt lõi, đồng thời góp phần nâng cấp chuỗi cung ứng trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp dài hạn. Bên cạnh đó, công nghệ chiến lược cũng phải gắn với chuyển đổi xanh, giảm phụ thuộc nhập khẩu, giảm phát thải và tăng khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

Trong phần thảo luận, nhiều chuyên gia cho rằng một trong những “nút thắt” lớn nhất của ngành Công Thương hiện nay chính là chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp thực phẩm.

PGS.TS. Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm chỉ ra rằng, Việt Nam có rất nhiều lợi thế, từ nguồn nguyên liệu dồi dào, chi phí thấp đến quy mô thị trường lớn với hơn 100 triệu dân và điều kiện tự nhiên thuận lợi. Tuy nhiên, những lợi thế này đã được nhắc đến trong nhiều năm nhưng chưa được chuyển hóa thành năng lực công nghệ và giá trị gia tăng tương xứng.

PGS.TS. Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm

PGS.TS. Vũ Nguyên Thành - Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm

Theo TS.Thành, vấn đề cốt lõi nằm ở tầm nhìn và cách thức đầu tư cho công nghệ. “Nếu xác định được đúng các trụ cột chiến lược, chúng ta phải đầu tư đủ lớn, bài bản và kiên trì. Công nghệ không thể làm theo kiểu ngắn hạn mà phải tạo ra giá trị thực và dẫn dắt được các ngành liên quan”, ông Thành nhấn mạnh.

Một thực tế đáng chú ý được ông Thành nêu ra là ngành thực phẩm Việt Nam hiện mới chủ yếu dừng ở khâu chế biến cuối cùng, trong khi các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như sản xuất phụ gia, nguyên liệu chức năng hay bao bì vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. “Có những sản phẩm mà chi phí bao bì chiếm tới khoảng 20% giá thành. Điều đó cho thấy chúng ta đang yếu ở những mắt xích tưởng như phụ nhưng lại quyết định giá trị gia tăng của toàn ngành”, ông dẫn chứng.

Từ thực tiễn này, ông đề xuất cần tập trung phát triển công nghệ sinh học phục vụ chế biến sâu nông, lâm sản - một hướng đi có thể giúp nâng cao giá trị sản phẩm và giảm phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu nguyên liệu thô. Đồng thời, cần ưu tiên phát triển các ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp thực phẩm như phụ gia, nguyên liệu sinh học và bao bì.

Ở góc nhìn bổ sung, TS. Nguyễn Mạnh Dũng - Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực, Thực phẩm Việt Nam cho rằng, cần có cách hiểu đúng về công nghệ sinh học trong lĩnh vực thực phẩm. Theo ông, trọng tâm không chỉ là các công nghệ cao như công nghệ gen hay tế bào, mà còn bao gồm các công nghệ thiết thực, có khả năng ứng dụng rộng như lên men, chiết tách hay biến tính nguyên liệu.

“Đây là những công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam và có thể nhanh chóng tạo ra sản phẩm. Quan trọng là phải gắn công nghệ với thị trường, tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước để phát triển các sản phẩm có giá trị cao như thực phẩm chức năng, nguyên liệu dinh dưỡng”, ông Dũng nhấn mạnh.

Ông cũng dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã thành công khi định hướng phát triển công nghệ sinh học gắn với chế biến sâu nông sản, từ đó tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao thay vì xuất khẩu thô. Điều này càng cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn đúng hướng đi và tập trung nguồn lực.

Trong khi đó, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm - Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực, Thực phẩm Việt Nam thẳng thắn chỉ ra một “nghịch lý” trong hoạt động khoa học công nghệ hiện nay: nhiều kết quả nghiên cứu vẫn đang nằm trong phòng thí nghiệm hoặc “trong ngăn kéo”, chưa được đưa vào sản xuất do thiếu cơ chế triển khai và thiếu sự kết nối với doanh nghiệp.

Theo ông, để khắc phục tình trạng này, cần thay đổi cách tiếp cận, từ các đề tài nghiên cứu đơn lẻ sang xây dựng các chuỗi nhiệm vụ liên kết xuyên suốt, bắt đầu từ nguồn nguyên liệu chiến lược, qua công nghệ tinh chế sâu, đến nội địa hóa thiết bị và cuối cùng là sản phẩm thương mại có giá trị cao.

“Công nghệ chỉ thực sự chiến lược khi chúng ta làm chủ cả quy trình và thiết bị. Nếu chỉ có quy trình mà phụ thuộc vào máy móc nhập khẩu thì rất khó tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững”, ông nhấn mạnh, đồng thời đề xuất cần đẩy mạnh nội địa hóa thiết bị quy mô pilot công nghiệp để giảm chi phí và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia.

Trên cơ sở đó, các chuyên gia đã đề xuất nhiều cụm nhiệm vụ trọng điểm có thể tạo ra đột phá cho ngành, từ chế biến sâu sau gạo, phát triển protein thay thế, hóa học biển, chế biến dầu thực vật đến vật liệu carbon sinh học và nội địa hóa thiết bị công nghiệp… Đây đều là những lĩnh vực có tiềm năng lớn, gắn với lợi thế nguyên liệu của Việt Nam và xu hướng phát triển bền vững trên thế giới.

Bộ Công Thương sẽ tổng hợp, đề xuất danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược của ngành Công Thương, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 4/2026

Bộ Công Thương sẽ tổng hợp, đề xuất danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược của ngành Công Thương, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 4/2026

Kết luận Tọa đàm, bà Nguyễn Thị Lâm Giang khẳng định, công nghệ sinh học trong lĩnh vực thực phẩm là một trong những hướng quan trọng mà Bộ Công Thương sẽ xem xét đưa vào danh mục công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn sẽ rất chặt chẽ, đòi hỏi công nghệ phải có khả năng triển khai ở quy mô lớn, tạo tác động rõ rệt và nhanh chóng đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời được đầu tư tập trung, đủ lớn để tạo ra sản phẩm cuối cùng.

Bà cũng nhấn mạnh vai trò phân công rõ ràng giữa các chủ thể: Nhà nước tạo cơ chế và chính sách, doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt triển khai, còn các nhà khoa học tham gia nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ. Các đề xuất phải được cụ thể hóa bằng các thuyết minh rõ ràng, trong đó làm rõ sản phẩm tạo ra là gì, ứng dụng vào đâu trong nền kinh tế, giá trị gia tăng mang lại và khả năng triển khai thực tế.

“Không phải mọi công nghệ đều là chiến lược. Nếu không đáp ứng được tiêu chí về quy mô và tác động, chúng ta vẫn có thể đưa vào các chương trình công nghệ cao hoặc công nghệ lõi. Nhưng công nghệ chiến lược thì phải thực sự tạo ra thay đổi lớn”, bà Giang nhấn mạnh.

Tọa đàm lần này vì vậy không chỉ dừng ở việc trao đổi học thuật, mà còn mở ra một bước đi quan trọng trong quá trình hình thành các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm của ngành Công Thương. Những lựa chọn được đưa ra hôm nay sẽ là nền tảng để xây dựng các chương trình đầu tư lớn trong thời gian tới, hướng tới mục tiêu hình thành các ngành công nghiệp mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa khát vọng phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hồ Nga

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/tim--don-bay--cong-nghe-chien-luoc-cho-nganh-cong-thuong-499360.htm