Tìm hiểu văn hóa tranh luận của các cụ xưa
Xuân Bính Ngọ - Đầu thế kỷ 20, nước ta xảy ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi về các vấn đề triết học, lịch sử, văn hóa, văn học - nghệ thuật, luân lý đạo đức… Những cuộc tranh luận này diễn ra trên mặt báo nên nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là các cuộc bút chiến.

Nhà thơ Tản Đà
Điều thú vị mà ngày nay chúng ta nên học tập là các cụ thời đó tranh luận với nhau rất gay gắt về lý lẽ, về học thuật nhưng vẫn luôn thể hiện thái độ điềm tĩnh, tôn trọng nhau, tranh luận rất có văn hóa.
Tranh luận là biểu hiện của học vấn và nhân cách
Qua các cuộc tranh luận này, ta dễ dàng nhận thấy các cụ đều có trình độ học vấn uyên thâm, cả Hán học lẫn Tây học, sở hữu phông văn hóa dày dặn, và chỉ tranh luận những vấn đề mà mình có nghiên cứu chuyên sâu, thực hiện đúng như câu tục ngữ trong dân gian: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.
Phan Khôi tranh luận với nhà báo Huỳnh Thúc Kháng về công và tội của vua Gia Long; tranh luận với nhà văn, nhà báo Hải Triều về duy tâm - duy vật; tranh luận với học giả Lê Dư về Quốc học; tranh luận Phạm Quỳnh về Truyện Kiều; tranh luận với học giả Trần Trọng Kim về Nho giáo; tranh luận với nhà thơ Tản Đà về luân lý, đạo đức… đều với tư cách và thái độ như vậy.

Nhà báo, nhà văn Phan Khôi
Các cụ tranh luận với nhau có khi nảy lửa nhưng không công kích cá nhân, thể hiện qua cách dùng từ ngữ và cách xưng hô. Hãy đọc đoạn văn sau đây của nhà văn, nhà báo Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn) trên báo Công Luận, số ra ngày 30/12/1934, khi tranh luận với nhà báo Phan Khôi: “Cách đây 10 tháng về trước, tôi có cơ hội tranh luận với Phan tiên sinh về vấn đề duy tâm hay duy vật. Trên mặt lý thuyết, ông Phan và tôi có chỗ không đồng ý nhau, thì nay đến sự quan sát một cái hiện trạng về xã hội, Phan tiên sinh và tôi lại có chỗ bất đồng ý kiến nữa. Tôi muốn nói: Phan tiên sinh cho lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến, trái lại, tôi quả quyết rằng, nước ta có chế độ phong kiến, chẳng những có từ thời xưa mà cái hình thức và cái tinh thần của nó vẫn cứ dây dưa mãi đến bây giờ…”.
Ý tứ và cách xưng hô ở đây rất nhẹ nhàng và khiêm tốn. Trong một đoạn văn ngắn mà có đến ba lần Hải Triều gọi đối thủ một cách tôn trọng là “Phan tiên sinh”.
Năm 1930, học giả Trần Trọng Kim cho ra mắt quyển 1 của bộ sách Nho giáo. Trên tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày 29/5/1930, Phan Khôi phê phán Trần Trọng Kim lầm lẫn Khổng học với Tống Nho. Biết Trần Trọng Kim có đọc nhưng chưa vội phản hồi, ông liền lên tiếng bộc bạch quan điểm của mình: “Vì trong sự học vấn phải giữ thái độ quang minh, chính đại, khi người ta bẻ bác mình, mình còn lẽ nói lại thì đem mà nói lại, mình hết lẽ thì phải tỏ ý chịu cái thuyết của người ta đi, nói cho rõ ra hễ thua thì chịu thua, chứ không được làm cái thói trù trợ cho qua việc. Tôi cũng biết rằng sự cãi nhau về học vấn chẳng qua là bênh vực cho chân lý. Thế thì dù tiên sinh có hơn mà tôi có thua đi nữa, cái đó cũng chẳng làm cho kẻ vui người buồn giữa đôi ta, và nếu tôi là kẻ biết điều thì cũng chẳng buồn, mà phải lấy sự chân lý đắc thắng làm vui”.
Quan điểm rất rõ ràng, tranh luận với nhau cốt là để làm rõ đúng sai, “lấy sự chân lý đắc thắng làm vui” chứ không có mục đích gì khác. Mặc dầu có biện minh cho đứa con tinh thần của mình, nhưng Trần Trọng Kim vẫn thừa nhận Phan Khôi có lý ở nhiều điểm, và khi tái bản quyển Nho giáo năm 1932, ông đã sửa chữa theo ý Phan Khôi.
Nhà nghiên cứu Thanh Lãng trong sách “Phê bình văn học - thế hệ 1932” đã nhận xét xác đáng: “Cuộc tranh luận này cho thấy hai học giả họ Phan và họ Trần đã có thái độ trí thức rất đáng phục. Chính thái độ trí thức ấy đã giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề triết học bấy lâu bị thiên hạ hiểu rất tù mù”.
Văn hóa đối thoại của các bậc trí thức
Là đồng hương nhưng hai nhà báo Huỳnh Thúc Kháng và Phan Khôi cũng tranh luận với nhau ít nhất 5 lần vào các năm 1928, 1930, 1931, bởi cả hai đều mang trong mình tính cách “Quảng Nam hay cãi”.

Nhà báo Huỳnh Thúc Kháng
Trong bài “Mấy cái quái trong sách và báo nước ta” trên tờ Đông Pháp thời báo, số ra ngày 1/5/1928, Phan Khôi phản bác ý kiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng - một tượng đài về báo chí nước nhà, một bậc đàn anh trong phong trào Duy tân, và chênh nhau đến 11 tuổi. Ông không đồng ý với quan điểm của cụ Huỳnh viết trên báo Tiếng Dân.
Sau bài của Phan Khôi, trên báo Tiếng Dân số ra ngày 20/5/1928, cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài “Nói điều lỗi của ta là sự may mắn cho ta” để đáp lại. Về cơ bản, bài báo đã tiếp thu những ý kiến luận giải của Phan Khôi. Thái độ cầu thị, lắng nghe, tiếp thu lý lẽ từ nhà báo đàn em của cụ Huỳnh thật đáng trân trọng, đáng khâm phục. Trong tranh luận học thuật, tuyệt nhiên không có chỗ cho tình trạng cậy quyền thế, cậy tuổi tác mà cả vú lấp miệng em, mà độc quyền chân lý.
Nói về văn hóa tranh luận của các cụ ngày xưa, cũng nên nhắc lại chuyện tranh luận của nhà thơ Tản Đà với nhà báo Phan Khôi. Trên tờ Phụ nữ tân văn số ra ngày 28/3/1931, Phan Khôi viết bài: “Cái cười của con Rồng cháu Tiên”, công kích cái cười khả ố, bần tiện, tàn nhẫn của người nước ta. Sau đó, ông viết tiếp bài “Tống Nho với phụ nữ”, phê phán phong tục thủ tiết của người Việt Nam mà ông cho là man rợ.
Bất bình với quan điểm này, trên An Nam tạp chí, số ra ngày 23/1/1932, nhà thơ Tản Đà viết bài “Một cái tai nạn lưu hành ở Nam Kỳ: Phan Khôi”. Nhà thơ tự lập tòa án, kết tội Phan Khôi đã nhục mạ tổ tiên, phải bị phạt: “Chịu ba trăm roi đòn, chia đánh ở ba nơi: Đánh ở trước sân Văn Miếu Thăng Long là nơi gốc văn vật của Nho học nước ta, ở Huế là nơi thủ phủ của Trung Kỳ, ở Quảng Nam là nơi chốn của tội nhân sinh trưởng, học tập” (Theo sách “Người Quảng Nam” của Lê Minh Quốc).
Trong trường hợp này thì Phan Khôi “chịu thua”, không tranh luận lại nửa lời, bởi đó là sự “kết án” của một nhà thơ, có yếu tố hài hước. Nhà nghiên cứu Lê Quang Đức có lý khi nhận xét rằng: “Điều đáng nói là giữa Phan Khôi và Tản Đà có những gay cấn ngặt nghèo nhưng Phan Khôi vẫn luôn thấy cụ và Tản Đà là “một đôi bạn đồng tâm”, là những con người phong nhã, hào hoa, đặc biệt là chung ý chí “đại trượng phu”.
Tranh luận, phản biện là một yêu cầu có tính khách quan để tiếp cận chân lý, để cuộc sống vận hành theo hướng đi lên. Xã hội càng dân chủ thì các cuộc tranh luận, phản biện càng diễn ra sôi nổi. Khi tranh luận, phản biện cần có nền tảng văn hóa vững chắc, tranh luận bằng lý lẽ, bằng trí tuệ, biết cầu thị, biết tôn trọng người đối thoại, nếu đuối lý thì cần dũng cảm thừa nhận, tuyệt đối không nên áp đặt, quy chụp, bỏ bóng đá người. Và trong thực tế ở nước ta đầu thế kỷ 20, có những cuộc tranh luận gay gắt, nảy lửa như vậy nhưng các cụ thời đó đã nêu một tấm gương về văn hóa tranh luận cho chúng ta ngày nay lấy đó mà soi.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tim-hieu-van-hoa-tranh-luan-cua-cac-cu-xua-3325189.html












