Tín dụng ngân hàng tăng tốc, áp lực thanh khoản bắt đầu hiện rõ

Tín dụng toàn hệ thống tăng tốc ngay trong quý đầu năm, tạo lực đẩy cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2026. Tuy nhiên, khoảng cách ngày càng lớn giữa tín dụng và huy động vốn đang đặt ra bài toán thanh khoản không nhỏ cho ngành ngân hàng.

Số liệu từ báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tính đến ngày 31/3/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng của nhóm này đã vượt ngưỡng 14,67 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 4% so với thời điểm cuối năm 2025. Đây là kết quả ấn tượng bởi quý đầu năm thường là giai đoạn nhu cầu vốn của nền kinh tế trầm lắng hơn so với các quý còn lại.

Những kỷ lục mới về quy mô và tốc độ

Trong cuộc đua mở rộng dư nợ, VPBank lần đầu tiên ghi nhận quy mô cho vay khách hàng đạt 1.040.917 tỷ đồng, tăng thêm 97.016 tỷ đồng chỉ sau ba tháng. Với mức tăng trưởng tuyệt đối lên tới 10%, VPBank hiện là nhà băng có sự bứt phá mạnh mẽ nhất về giá trị cho vay trong toàn hệ thống, bỏ xa các đối thủ cùng phân khúc.

Trong nhóm tăng trưởng hai chữ số còn có HDBank. Ngân hàng này ghi nhận dư nợ tăng từ 546.371 tỷ đồng lên 601.140 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 54.770 tỷ đồng. Tỷ lệ tăng trưởng 10% giúp HDBank củng cố vị thế trong nhóm những ngân hàng tư nhân năng động nhất.

Tuy nhiên, nếu xét thuần túy về tốc độ tăng trưởng, NCB mới là cái tên gây bất ngờ lớn nhất. Dư nợ của nhà băng này đã tăng vọt từ 97.545 tỷ đồng lên 116.876 tỷ đồng, tương ứng mức tăng trưởng gần 20%. Mặc dù quy mô tuyệt đối của NCB vẫn nằm trong nhóm thấp của hệ thống, nhưng tốc độ mở rộng này cao gấp nhiều lần mặt bằng chung ngành ngân hàng.

Cần lưu ý rằng NCB, VPBank và HDBank đều là những đơn vị được cơ quan quản lý cấp hạn mức tín dụng cao trong năm 2026 với con số lên đến 35%.

Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục đóng vai trò là cột trụ thanh khoản của nền kinh tế nhưng có sự phân hóa đáng kể về tốc độ. Vietcombank dẫn đầu nhóm này về hiệu suất khi dư nợ tăng thêm 81.401 tỷ đồng, tương đương mức tăng 5% và đưa tổng dư nợ lên 1.754.926 tỷ đồng.

Trong khi đó, BIDV dù vẫn giữ vững vị thế quán quân về quy mô cho vay toàn hệ thống với gần 2,43 triệu tỷ đồng nhưng mức tăng trưởng chỉ dừng lại ở 2%. Tương tự, VietinBank ghi nhận mức tăng 2% với tổng dư nợ đạt hơn 2,03 triệu tỷ đồng.

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn, MB duy trì vị thế dẫn đầu phân khúc với dư nợ đạt 1,12 triệu tỷ đồng sau khi tăng thêm hơn 36.500 tỷ đồng trong quý đầu năm. Techcombank cũng ghi nhận sự tăng trưởng tích cực khi đạt quy mô 796.864 tỷ đồng, tăng 4% so với cuối năm trước.

Các ngân hàng khác như ACB, MSB hay VietBank cũng ghi nhận mức tăng dao động từ 3% đến 5%.

Trái ngược với đà tăng chung, một vài ngân hàng có dấu hiệu chững lại hoặc sụt giảm. Sacombank gần như đi ngang khi dư nợ chỉ tăng thêm 568 tỷ đồng, tương ứng mức tăng chưa đầy 0,1%. Đặc biệt, PGBank và ABBank là hai nhà băng ghi nhận sự sụt giảm dư nợ trong quý đầu năm với mức giảm lần lượt là 4,2% và 2,9%.

Theo nhận định từ các tổ chức tín dụng, nhu cầu vay vốn dù có cải thiện nhưng mức độ phục hồi tại một số đơn vị vẫn thấp hơn kỳ vọng ban đầu.

Cơ cấu dòng vốn và những áp lực lên hệ thống

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến cuối tháng 4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt gần 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với đầu năm. Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN), cho biết dòng vốn này được phân bổ tương đối phù hợp với cơ cấu kinh tế khi lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 70%, tiếp theo là công nghiệp, xây dựng và nông nghiệp. Đáng chú ý, các lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu và doanh nghiệp công nghệ cao ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, lần lượt đạt 11,2% và 18,81%.

Tuy nhiên, bức tranh tài chính không chỉ có những mảng màu sáng. Ngành ngân hàng đang phải đối mặt với một thách thức lớn khi tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa tốc độ huy động vốn. Hiện tại, quy mô huy động vốn bằng nội tệ đang thấp hơn dư nợ cho vay khoảng 2 triệu tỷ đồng. Điều này tạo ra áp lực lớn lên thanh khoản và khả năng tạo lập nguồn vốn của các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, rủi ro kỳ hạn cũng là vấn đề đáng lưu tâm. Trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn (chiếm khoảng 80%), thì nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và các dự án hạ tầng trọng điểm lại tập trung ở trung và dài hạn.

Tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức 145% cũng cho thấy nền kinh tế vẫn đang phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng.

Dự báo cho cả năm 2026, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ tiếp tục ở mức cao để phục vụ các mục tiêu tăng trưởng. Theo ước tính, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội riêng trong năm 2026 cần khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong đó vốn tín dụng ngân hàng đóng góp khoảng 1,8 triệu tỷ đồng. Con số này phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% mà NHNN đã đặt ra.

Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, NHNN chỉ đạo các ngân hàng giảm lãi suất huy động để "hạ nhiệt" lãi suất cho vay. Tuy nhiên, theo giới phân tích, mặc dù lãi suất huy động có dấu hiệu hạ nhiệt nhẹ vào đầu quý II, nhưng dư địa để giảm sâu lãi suất cho vay vẫn còn hạn chế.

Các chuyên gia từ FiinRatings đánh giá rằng áp lực thanh khoản cùng với những biến động địa chính trị toàn cầu như xung đột tại Trung Đông hay chi phí năng lượng leo thang sẽ tiếp tục gây sức ép lên lạm phát và tỷ giá. Cơ chế truyền dẫn có độ trễ sẽ khiến lãi suất cho vay khó giảm ngay lập tức, ngay cả khi lãi suất đầu vào bắt đầu đi xuống.

Trước bối cảnh đó, NHNN khẳng định sẽ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô. Ưu tiên hàng đầu vẫn là tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và dự án trọng điểm quốc gia. Đồng thời, các cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để tháo gỡ khó khăn, đảm bảo dòng vốn được phân bổ hiệu quả, an toàn và bền vững cho nền kinh tế trong những quý tiếp theo.

Huyền Anh

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/tin-dung-ngan-hang-tang-toc-ap-luc-thanh-khoan-bat-dau-hien-ro.html