Tín dụng xanh: Cần thêm 'đường dẫn' để vốn vào nhà máy

Dư nợ tín dụng xanh đã vượt 856.000 tỷ đồng; tuy nhiên để vốn đi sâu vào sản xuất, cần đồng bộ tiêu chí dự án xanh, nguồn vốn dài hạn và dữ liệu đo lường.

Vốn xanh tăng nhanh, cần tìm đường vào nhà máy

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 14/10/2026, đến cuối tháng 6/2026, quy mô dư nợ tín dụng xanh của nền kinh tế đạt hơn 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Hiện có 82 tổ chức tín dụng tham gia cấp tín dụng xanh, quy mô dư nợ gấp 4,6 lần so với thời điểm bắt đầu triển khai năm 2017.

So với tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tín dụng xanh hiện chiếm khoảng 4,2%, cho thấy dư địa mở rộng còn rất lớn. Bên cạnh quy mô, yêu cầu đặt ra hiện nay nằm ở việc đưa dòng vốn đến với các nhà máy, dây chuyền sản xuất đang chuyển đổi theo hướng giảm phát thải.

Đáng chú ý, từ ngày 1/1/2026, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu đã kết thúc giai đoạn chuyển tiếp và bước vào giai đoạn thực hiện đầy đủ. Trong giai đoạn chuyển tiếp, nhà nhập khẩu chỉ phải báo cáo lượng phát thải. Từ năm 2026, nhà nhập khẩu hàng hóa thuộc các nhóm sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro vào Liên minh châu Âu phải mua chứng chỉ tương ứng với lượng phát thải carbon của hàng hóa. Việc mua chứng chỉ cho hàng nhập khẩu năm 2026 bắt đầu từ tháng 2/2027.

Dòng vốn tín dụng xanh cần được khơi thông để đến với các dự án đầu tư giảm phát thải trong sản xuất. 

Dòng vốn tín dụng xanh cần được khơi thông để đến với các dự án đầu tư giảm phát thải trong sản xuất. 

Chi phí carbon trở thành một phần trong giá thành hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp có mức phát thải thấp, số liệu đo đạc minh bạch sẽ có lợi thế giữ đơn hàng. Không riêng Liên minh châu Âu, nhiều thị trường lớn ngày càng đòi hỏi hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn xanh, minh bạch về phát thải. Để mở rộng thị trường quốc tế, doanh nghiệp sản xuất cần đầu tư đổi mới công nghệ, giảm phát thải.

Hành lang pháp lý cho vốn xanh cũng đang được hoàn thiện. Từ ngày 1/11/2026, Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị sẽ có hiệu lực.

Về cơ cấu, theo Ngân hàng Nhà nước, dòng vốn tín dụng xanh hiện tập trung nhiều vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học (trên 31%) cùng năng lượng xanh (gần 28%).

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, cho rằng danh mục phân loại xanh và bộ tiêu chí xác định dự án xanh đều mới ra đời. Theo ông, điều này góp phần khiến vốn tín dụng xanh tập trung vào các lĩnh vực trên. “Cần có cách tiếp cận hệ thống. Không thể giải quyết riêng lẻ từng mảng”, TS. Lê Minh Nghĩa nhận định.

Từ thực tế trên, có thể thấy vốn xanh đang có đà tăng trưởng tốt và cần thêm những “đường dẫn” phù hợp để đi sâu vào sản xuất. Để dòng vốn đến đúng chỗ, đúng nhu cầu, các bên liên quan cần triển khai đồng bộ giải pháp về tiêu chí, nguồn vốn và dữ liệu.

Ba “chìa khóa” khơi thông dòng vốn

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, có ba “chìa khóa” để khơi thông dòng vốn xanh vào sản xuất.

PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam.

PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam.

Thứ nhất, cần một hệ thống tiêu chí thống nhất, ổn định và dễ thực hiện. Doanh nghiệp cần biết rõ thế nào là một dự án xanh, mức độ xanh đến đâu và tiêu chí nào được ngân hàng, cơ quan quản lý, thị trường quốc tế cùng chấp nhận. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, cùng Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg, đánh dấu bước tiến theo hướng này, giúp các bên có chung một “thước đo”.

Thứ hai, cần nguồn vốn dài hạn và các cơ chế chia sẻ rủi ro. Đầu tư xanh có chi phí ban đầu lớn, lợi ích thu hồi trong nhiều năm thông qua giảm tiêu hao điện, nhiên liệu, nguyên liệu. Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn tín dụng xanh, quỹ tiết kiệm năng lượng, mô hình công ty dịch vụ năng lượng, bảo lãnh tín dụng và các cơ chế chia sẻ rủi ro cho dự án đổi mới công nghệ.

Về chính sách, Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có hiệu lực từ đầu năm 2026 đã đặt trọng tâm vào thúc đẩy đổi mới công nghệ, mở rộng các cơ chế hỗ trợ, tài chính xanh. Trên cơ sở Luật này và Nghị định số 30/2026/NĐ-CP, Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã có cơ sở pháp lý. Bộ Công Thương đã tổ chức tham vấn, xây dựng dự thảo Quyết định thành lập Quỹ và lấy ý kiến các bộ, ngành, mở thêm một kênh vốn mới cho doanh nghiệp.

Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả do Bộ Công Thương chủ trì đặt mục tiêu tiết kiệm khoảng 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc vào năm 2030. Để đạt mục tiêu này, cần biến tiềm năng tiết kiệm năng lượng thành các dự án đầu tư có khả năng vay vốn và có dòng tiền rõ ràng.

Thứ ba, cần dữ liệu và năng lực đo lường. Mọi cam kết xanh phải đo được bằng số liệu và chuyển thành hiệu quả kinh tế hoặc giảm phát thải thực tế. Vì vậy, kiểm toán năng lượng, quản trị năng lượng và số hóa dữ liệu sản xuất cần đi trước hoặc song hành với đầu tư thiết bị.

“Đây không chỉ là câu chuyện bảo vệ môi trường mà là một cuộc tái cơ cấu năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”, PGS.TS Ngô Trí Long nhận định.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo TS. Lê Minh Nghĩa, giải pháp trước mắt nằm ở các mô hình giảm áp lực vốn ban đầu. Doanh nghiệp có thể thuê thiết bị tiết kiệm năng lượng qua công ty dịch vụ năng lượng, áp dụng mô hình thanh toán dựa trên khoản tiết kiệm tạo ra, bắt đầu từ dự án thí điểm nhỏ trước khi mở rộng, thay vì chờ đợi một gói vốn lớn ngay từ đầu.

“Khi doanh nghiệp thấy rõ mối liên hệ trực tiếp giữa mức phát thải và chi phí thực tế phải trả, động lực chuyển đổi thực chất sẽ tự nhiên mạnh hơn nhiều so với việc chuyển đổi chỉ để ‘gắn nhãn xanh’”, TS. Lê Minh Nghĩa phân tích.

Bộ Công Thương đã xác định thúc đẩy xuất khẩu xanh, đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường thuộc nhóm nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. Thời gian tới, thị trường carbon trong nước dự kiến vận hành thí điểm đến hết năm 2028 và chính thức hoạt động từ năm 2029. Thị trường này sẽ góp phần đưa chi phí carbon vào giá thành, tạo thêm động lực cho đầu tư xanh. Trong tiến trình đó, ngành Công Thương tiếp tục giữ vai trò đầu mối hỗ trợ doanh nghiệp kiểm kê khí nhà kính, báo cáo phát thải, cảnh báo sớm tiêu chuẩn mới của các thị trường lớn và nhân rộng những mô hình chuyển đổi hiệu quả.

Có thể thấy, hơn 856.000 tỷ đồng tín dụng xanh tạo nền tảng đáng kể. Khi tiêu chí rõ ràng, vốn dài hạn được khơi thông và doanh nghiệp đo được hiệu quả từng đồng vốn, dòng vốn xanh sẽ đi sâu hơn vào nhà máy, giúp hàng hóa Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn xanh và nâng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

An Nhiên

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/tin-dung-xanh-can-them-duong-dan-de-von-vao-nha-may-478642.html