Tinh hoa gốm sứ trong bộ đỉnh thờ - Khi đất mẹ hóa linh

Trong đời sống tín ngưỡng của người Việt, không gian thờ tự không chỉ là nơi thực hành nghi lễ, mà còn là nơi kết tinh những quan niệm sâu xa về vũ trụ và con người. Mỗi vật phẩm trên bàn thờ đều mang một ý nghĩa biểu trưng: bát hương giữ vị trí trung tâm, chân nến gợi ánh sáng và sự khai mở, lọ hoa mang theo sinh khí và thiện niệm, còn đỉnh thờ được xem là nơi hội tụ linh khí - nơi làn khói hương nối con người với tổ tiên và trời đất.

Bộ đỉnh gốm sứ ngũ sự, gồm: đỉnh, đôi hạc và cặp nến. Ảnh: Internet

Bộ đỉnh gốm sứ ngũ sự, gồm: đỉnh, đôi hạc và cặp nến. Ảnh: Internet

Gốm sứ - linh hồn của đất và nền văn minh lúa nước

Trong số các chất liệu được lựa chọn để chế tác đồ thờ, gốm sứ tuy mộc mạc nhưng lại mang giá trị tâm linh đặc biệt. Bởi lẽ, gốm sinh ra từ đất mẹ, yếu tố gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông nghiệp lúa nước.

Gốm sứ không đơn thuần là đất nung, mà là đất đã trải qua một hành trình chuyển hóa: được chọn lọc, nhào nặn, định hình và thanh lọc qua lửa. Từ rất sớm, người Việt đã biết lấy đất, vật liệu gần gũi và bền bỉ, để tạo nên những vật dụng vừa phục vụ đời sống thường nhật, vừa mang ý nghĩa thiêng liêng, trong đó có bát hương, lọ hoa và đỉnh thờ...

Trong tư duy Á Đông, thổ được xem là gốc rễ của vạn vật, nơi khởi sinh và cũng là điểm trở về. Vì vậy, một bộ đỉnh gốm sứ không chỉ là vật chứa hương trầm, mà còn là biểu hiện sinh động của mối giao hòa giữa con người và đất trời, nơi đất, qua bàn tay con người, dần mang trong mình yếu tố linh thiêng.

Theo Nghệ nhân Quốc gia Nguyễn Lâm Tới - Giám đốc văn phòng đại diện Hội Mỹ nghệ Kim hoàn đá quý Việt Nam tỉnh Hưng Yên - người có hàng thập niên làm việc tại làng nghề gốm sứ Bát Tràng, chia sẻ: "Đỉnh gốm sứ được xem là tinh hoa của nền văn minh lúa nước, sinh ra từ đất, nước, lửa và bàn tay con người. Mỗi khối đất phải trải qua quá trình chọn lọc, nhào nặn, chịu lửa hàng nghìn độ để kết tinh thành vật phẩm thiêng. Nếu được làm hoàn toàn thủ công, thì trong từng lớp men, từng đường vẽ, từng họa tiết đều chứa đựng tâm huyết và trí tuệ của nghệ nhân. Qua quá trình ấy, đất không còn vô tri, mà trở thành vật lưu giữ khí thiêng của đất, hồn của nghề và lòng thành của con người."

Nghệ nhân Quốc gia Nguyễn Lâm Tới bên bộ đỉnh gốm sứ men rạn

Nghệ nhân Quốc gia Nguyễn Lâm Tới bên bộ đỉnh gốm sứ men rạn

Gốm sứ - dấu ấn của lòng thành và bàn tay người thợ

So với những chất liệu đề cao độ bền vật chất, gốm sứ giữ lại nhiều dấu ấn của lao động thủ công và cảm xúc người làm ra nó. Làm gốm sứ là quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn, cẩn trọng và chấp nhận bất định, bởi đất, lửa và men không bao giờ hoàn toàn tuân theo ý muốn con người.

Chính sự mong manh ấy tạo nên vẻ đẹp nhân bản của gốm sứ. Những vết rạn men hay sự không hoàn hảo về hình thức không làm giảm giá trị của đỉnh thờ, mà trái lại, khiến nó trở nên gần gũi, như mang theo hơi thở của thời gian và của ngọn lửa đã đi qua.

Bộ đỉnh tam sự uy nghi được chế tác tỉ mỉ, công phu. Ảnh: Internet

Bộ đỉnh tam sự uy nghi được chế tác tỉ mỉ, công phu. Ảnh: Internet

Biểu tượng linh khí và đạo hiếu trong bộ đỉnh thờ

Trong tạo hình đỉnh thờ gốm sứ, các biểu tượng quen thuộc của mỹ thuật truyền thống xuất hiện một cách chừng mực nhưng giàu ý nghĩa. Hình tượng chú nghê trên nắp đỉnh không chỉ mang tính trang trí, mà còn gắn với quan niệm bảo hộ không gian thờ tự. Nghê của người Việt không dữ dằn, mà hiền hòa, trung thành, phản ánh tâm thức dung dị của cộng đồng cư dân nông nghiệp.

Hai bên đỉnh thường là hình ảnh hạc cưỡi rùa. Rùa biểu trưng cho sự bền vững, hạc gợi sự thanh cao; khi đứng cùng nhau, hai hình tượng ấy thể hiện quan niệm về sự cân bằng giữa trời và đất, giữa hiện hữu và vĩnh hằng. Trong tâm thức dân gian, đó cũng là hình ảnh gợi nhắc về đạo hiếu và sự tiếp nối giữa các thế hệ.

Bộ đỉnh tạo nên sự uy nghi cho ban thờ. Ảnh: Internet

Bộ đỉnh tạo nên sự uy nghi cho ban thờ. Ảnh: Internet

Những làng nghề gốm sứ gắn với đỉnh thờ

Trải qua thời gian, một số làng nghề gốm sứ truyền thống ở Việt Nam đã phát triển chuyên sâu vào sản xuất đồ thờ, trong đó đỉnh thờ gốm giữ vai trò đặc biệt. Tiêu biểu là làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), nơi hội tụ kỹ thuật tạo hình chuẩn mực và hệ men phong phú; làng gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) với sắc men nâu trầm, dáng gốm khỏe khoắn; làng gốm Chu Đậu (Hải Dương) mang phong cách thanh nhã, tinh xảo; và Làng gốm Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai cũ) với men màu và phù điêu phù hợp không gian thờ tự Nam Bộ; cùng nhiều làng nghề truyền thống khác. Mỗi làng nghề, bằng phong cách riêng, đã góp phần tạo nên diện mạo đa dạng của đỉnh thờ gốm sứ Việt Nam.

Bộ đỉnh men lam của làng nghề gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội). Ảnh: Internet

Bộ đỉnh men lam của làng nghề gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội). Ảnh: Internet

Tinh hoa của bộ đỉnh thờ gốm sứ Việt không nằm ở sự cầu kỳ hình thức hay giá trị vật chất, mà ở hành trình chuyển hóa của đất. Từ đất mẹ, qua nước và lửa, dưới bàn tay và tâm ý con người, gốm trở thành vật mang linh khí - một ẩn dụ sâu sắc cho đời sống tinh thần của người Việt.

Bộ đỉnh gốm sứ, vì thế, không chỉ hiện diện trên bàn thờ, mà còn tồn tại trong dòng chảy ký ức văn hóa, nơi mỗi thế hệ tìm thấy sợi dây kết nối với tổ tiên, với đất trời và với chính cội nguồn của mình.

Bình An

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/tinh-hoa-gom-su-trong-bo-dinh-tho-khi-dat-me-hoa-linh-a31419.html