Đồng bào Mông một lòng theo Đảng - Khát vọng đổi đời từ núi cao (Bài 1): Mở 'nút thắt' trong nếp nghĩ, cách làm
Cuộc sống đồng bào Mông trên vùng cao xứ Thanh hôm nay đang đổi thay từng ngày. Nó bắt đầu từ niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, một niềm tin không dừng lại ở lời nói, mà được gửi gắm trong từng việc làm cụ thể và từ chính những chi bộ đảng và đảng viên người Mông đang ngày ngày 'bám trụ' ngay trong cộng đồng mình. Họ cùng dân bền gan vượt dốc núi, nuôi dưỡng khát vọng 'đổi đời' nơi triền cao mây phủ.

Mô hình trồng đào, mận tam hoa của gia đình anh Va Văn Cô ở bản Lốc Há, xã Nhi Sơn.
Gieo niềm tin nơi núi cao
Có những buổi sớm ở miền Tây xứ Thanh, mây như tấm chăn bông phủ lên mái nhà sàn, lên cả những sườn núi xanh thẫm. Người Mông sống ở đó, lặng lẽ và bền bỉ như đá núi. Đã có thời, cái nghèo bám riết không chỉ vì thiếu ăn thiếu mặc, mà còn thiếu một lối thoát trong nghĩ suy. Rồi từng chủ trương, chính sách, từng con đường, ánh điện lên bản; từng đảng viên “nói ít làm nhiều” xuất hiện giữa bản làng để gây dựng niềm tin vào Đảng.
Điều làm người ta nhớ về bản Mông không chỉ là cái lạnh mỏng như dao cứa lúc sáng sớm, hay những con đường lên bản dốc cao, khúc khuỷu khiến tim đập đến tận cổ. Mà là cái nghèo từng nằm rất sâu trong nếp sống. Có quãng dài, nhiều hộ vẫn quen trông chờ Nhà nước phát gạo cứu đói, hỗ trợ cây giống, con giống... thì nghĩ rằng “không phải làm vẫn có ăn”. Nói ra để hiểu, chứ không để trách. Bởi ở núi cao, chỉ một vụ ngô, lúa mất mùa cũng đủ làm cả nhà chao đảo. Người ta níu vào hỗ trợ như níu vào một cành cây giữa dòng nước lũ.
Nhưng cái nghèo, nếu chỉ là thiếu gạo, còn có thể cứu bằng vài chuyến hàng. Đáng ngại hơn là cái nghèo trong nếp nghĩ, cách làm và làm theo thói cũ, rồi cứ thế mà luẩn quẩn. Và muốn mở “nút thắt” ấy, phải có người đi trước, làm trước, phải có những “hạt giống đỏ” cắm rễ ngay trong lòng bản.
Đổi thay nhờ có Đảng
Từ trung tâm xã Nhi Sơn đến bản Lốc Há không xa, nhưng đủ để người ta hiểu thế nào là “men theo sườn núi”. Tìm đến nhà đảng viên Va Văn Cô trong một ngày trời se sắt lạnh. Anh đưa chúng tôi đi giữa vườn cây, nơi trước đây là nương ngô, rẫy lúa cằn cỗi.
Vườn mận tam hoa của anh được trồng thành hàng, thẳng lối, cây được hãm tán, gốc phủ đất tơi xốp. Xen kẽ là những gốc đào thân khỏe, cành vươn đều. Đứng ở đó, bỗng thấy núi không chỉ có màu xanh của rừng, mà còn có màu xanh của sự đổi thay.
Anh Cô kể, trước kia vợ chồng làm quần quật quanh năm, cái nghèo vẫn “bám riết”. “Nghèo không chỉ thiếu vật chất, mà còn bế tắc cả trong cách nghĩ, cách làm”. Giọng anh thật thà mà chạm đúng “tim đen” của cả bản người Mông này. Rồi anh kể về một chuyến đi Sa Pa, đi để học hỏi nhiều hơn là để chơi. Nhìn người ta trồng cây ăn quả, làm du lịch, anh tự hỏi một câu rất thật: “Đất người ta cũng giống mình, họ trồng cây ăn quả, làm du lịch, sao mình không thử?”.
Câu hỏi ấy, nghe qua tưởng bình thường. Nhưng đặt giữa núi cao, nó giống như một tảng đá nặng ngàn cân. Từ câu hỏi, anh bắt đầu học, học chọn giống cây, ghép cành, học kỹ thuật chăm sóc. Năm 2020, anh quyết định chuyển đổi dần nương rẫy sang trồng đào, mận. Không phải đổi một phát là giàu, mà đổi để có cơ hội thoát nghèo.
Thấy cây hợp đất, anh làm mạnh hơn, chuyển toàn bộ 3ha sang trồng đào, mận tam hoa xen canh dưa, bí, bưởi và một số cây ăn quả khác. Ba năm sau, cây bắt đầu cho thu hoạch, sản phẩm được thị trường đón nhận. Hiện anh có khoảng 80 gốc đào, hơn 200 gốc mận, đạt tiêu chuẩn VietGAP. Mỗi năm, gia đình thu khoảng 200 triệu đồng từ bán mận, đào gốc, đào cành, dưa, bí...
Điều hay là đầu ra không chỉ loanh quanh trong bản mà thương lái trong tỉnh tìm lên, rồi hàng theo xe về Quảng Ninh, Hải Phòng. Nhìn những cây đào, thùng mận rời khỏi núi, người ta hiểu, có những thứ trước đây tưởng “xa lắm”, hóa ra chỉ cần một lối rẽ đúng là chạm tới.
Va Văn Cô không nói nhiều về thành tích. Nhưng khi nói về Đảng, anh bảo rằng, nhờ có chủ trương, chính sách, nhờ cán bộ động viên và được học hỏi... mà anh thêm tin để làm. Tin không phải để ngồi yên, mà để vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Bởi thế, từ mô hình điểm của Va Văn Cô, ở bản Lốc Há nay đã nhân rộng mô hình trồng đào, trồng mận tam hoa lên 17ha, với 16 hộ tham gia, trong đó có 8 hộ đạt tiêu chuẩn VietGAP. Bình quân thu nhập hộ ít đạt 40 triệu đồng, hộ nhiều trên 200 triệu đồng/năm.
Còn ở bản Khằm 2, xã Trung Lý, gặp Bí thư chi bộ Giàng A Vàng, còn khá trẻ, nhanh nhẹn. Và đặc biệt là anh rất “nhớ việc”. Khi hỏi chuyện đời sống, chuyện làm ăn của dân bản là anh nói “vanh vách”. Cả bản có 101 hộ, 583 khẩu, 100% là đồng bào Mông sinh sống.
Anh nói về sinh hoạt chi bộ như nói về một nhịp sống. Chi bộ có 23 đảng viên, trước mỗi kỳ sinh hoạt, chi ủy họp trước, thảo luận nội dung cho “chín”. Vào buổi sinh hoạt, ngoài việc quán triệt văn bản, nghị quyết, chi bộ dành nhiều thời gian bàn chuyện rất cụ thể, trồng cây gì, nuôi con gì, mô hình nào phù hợp, làm sao để bà con bỏ dần thói quen cũ.
Những câu chuyện anh kể không phải “xa vời”. Nó có gương điển hình, có cách làm hiệu quả để dân bản làm theo. Như chính bản thân anh áp dụng mô hình nuôi gà đen bản địa, quy mô 200 con/lứa, thu nhập cả trăm triệu đồng/năm. Với mô hình này, bí thư chi bộ Giàng A Vàng còn hướng dẫn cho 23 hộ làm theo. Hay đảng viên Giàng A Vảng chuyển đổi 2ha cây trồng kém hiệu quả sang trồng cam đường và dưa Mông, cho thu nhập 50 triệu đồng/năm... Ở vùng cao, thu nhập “cả trăm triệu” không chỉ là tiền, nó là niềm tin, nếu làm đúng sẽ khá lên.
Điều quan trọng hơn, những mô hình ấy tạo ra “tác động dây chuyền”. Dân nhìn thấy đảng viên làm được thì mới tin lời vận động. Tin rồi mới dám làm theo và làm theo rồi mới có thể thoát nghèo bền vững. Ở bản Mông, vai trò chi bộ không chỉ là “quản lý đảng viên”. Chi bộ là nơi giữ đoàn kết, kỷ cương, giữ bình yên. Khi có chuyện, người dân tìm đến chi bộ, tìm đến bí thư, như tìm một điểm tựa. Đó là thứ “vốn” quý hơn cả tiền.
Nói về vai trò của cấp ủy, Bí thư Đảng ủy xã Trung Lý Hà Văn Ca cho biết: Đảng bộ xã luôn quan tâm bồi dưỡng, kết nạp những quần chúng ưu tú người Mông vào Đảng, đây được xem là lực lượng nòng cốt tại địa phương. Trong tổng số 369 đảng viên của Đảng bộ, thì có tới 158 đảng viên là dân tộc Mông. Khi người Mông có đảng viên của chính mình, họ dễ tin, dễ nghe, dễ làm theo. Và hơn thế, khi “hạt giống đỏ” mọc lên ngay trong bản, nó sẽ chống chọi được những cơn gió ngược, từ cái nghèo, lạc hậu, đến những lời xúi giục, chia rẽ của kẻ xấu.
Với bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy, cái tên nghe ấm áp, mà thân thương. Nhưng nếu trước đây, “hành trình” lên bản thì không ấm chút nào. 5 năm trước, tôi đã có dịp lên công tác. Từ trung tâm xã đến bản hơn 10km, một bên núi, một bên vực. Có đoạn dốc thẳng đứng, trơn trượt. Nhìn thôi đã thấy run. Ấy vậy mà bà con bản Mông vẫn đi, gùi măng, gùi rau rừng ra trung tâm xã bán; trẻ con lặn lội đến trường. Con đường với họ là thử thách mỗi ngày.

Đời sống tinh thần của người dân bản Mùa Xuân, xã Sơn Thủy được nâng cao, thông qua các phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao.
Rồi dần dần, mong ước thành hiện thực, Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư làm đường giao thông, kéo điện lưới lên, ánh sáng bắt đầu soi bản. Có đường, có điện, dân bản xem được tivi, biết thêm cách làm ăn, giao thương thuận lợi, đời sống cũng từ đó mà đổi thay.
Nhắc đến Mùa Xuân, người ta nghĩ đến Bí thư chi bộ, trưởng bản Sung Văn Cấu, người có nhiều trăn trở về cuộc sống bà con dân bản. Ông kể chuyện, khoảng năm 1990, gia đình di cư từ xã Pù Nhi (huyện Mường Lát cũ) đến đây sinh sống, rồi dần dần nhiều hộ đến theo. Nhưng càng đông thì càng khó, đất ít, sản xuất manh mún, lạc hậu, vì thế đời sống bấp bênh. Có thời, trẻ con từng ít được học hành, lớn lên 14 - 15 tuổi đã kết hôn, sinh con; hủ tục, tảo hôn, hôn nhân cận huyết... như cái vòng luẩn quẩn. Bởi vậy, muốn khá lên, phải đến trường, phải bớt tảo hôn và phải thay đổi nếp nghĩ, cách làm. Mà nếp nghĩ đổi được, phải có người kiên trì vận động từ trong dân bản.
Chi bộ ở đây được thành lập từ năm 2001 với 9 đảng viên, nay đã là 18 đảng viên. Nhắc về sự thay đổi, ông Cấu nói một câu giản dị mà đầy sức nặng: “Nhờ có Đảng, tin tưởng và đi theo Đảng mà cuộc sống dân bản thay đổi mỗi ngày”.
Dành nguồn lực để nâng cao đời sống dân bản
Thanh Hóa có 3.758 hộ, hơn 20.000 nhân khẩu đồng bào Mông, người dân sinh sống tập trung ở 44 bản thuộc 10 xã ở các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa (cũ). Nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc Mông, cùng với những chính sách của Đảng, Nhà nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 684-KL/TU ngày 10/12/2021 về tăng cường công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc Mông tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2021-2025, tạo cơ sở chính trị quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia chăm lo, phát triển vùng đồng bào Mông.
Từ chủ trương đúng đắn, cách làm phù hợp, đến nay các xã vùng đồng bào Mông đã xây dựng và duy trì hiệu quả 159 mô hình “Dân vận khéo”, 10 mô hình “Chính quyền thân thiện, vì Nhân dân phục vụ”, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa chính quyền với Nhân dân. Các cấp, ngành cùng tham gia hướng dẫn, hỗ trợ đồng bào xây dựng các mô hình phát triển kinh tế; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước giúp đồng bào ổn định sinh kế, vươn lên thoát nghèo. Nhờ đó, kinh tế - xã hội vùng đồng bào Mông từng bước khởi sắc; thu nhập bình quân đầu người trong 4 năm (2022-2025) đạt khoảng 19 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,5%/năm.
Song song với phát triển kinh tế, công tác xây dựng hệ thống chính trị cơ sở được đặc biệt coi trọng. Chính quyền địa phương đã chủ động tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ là người dân tộc Mông, góp phần tăng cường “cánh tay nối dài” của Đảng. Ngoài ra, lực lượng công an đã bố trí 23 cán bộ là người Mông công tác tại địa bàn Quan Sơn và Mường Lát (cũ); Bộ đội Biên phòng tỉnh phân công 79 đảng viên phụ trách 379 hộ gia đình tại 41 bản người Mông; tham gia củng cố sinh hoạt đảng ở 41 chi bộ; cử cán bộ tham gia sinh hoạt tại 21 chi bộ bản Mông... Những kết quả đó tiếp tục khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, tạo nền tảng vững chắc để đồng bào Mông yên tâm gắn bó với Đảng, với quê hương, chung sức xây dựng và bảo vệ biên cương Tổ quốc.











