Tính xác thực của di sản nhìn từ sự tiếp nối của đời sống
Trong khuôn khổ Hội nghị “Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về di sản và tính xác thực”, Phiên toàn thể “Tính xác thực trong một thế giới đang thay đổi” diễn ra ngày 28.9 tại Hà Nội đã tập trung trao đổi về cách nhận diện, đánh giá tính xác thực của di sản trong bối cảnh mới.
Những trường hợp từ Tràng An, Hoàng thành Thăng Long, Hội An cùng các di sản ở Ấn Độ, Nhật Bản và Myanmar cho thấy tính xác thực cần được nhìn nhận từ nhiều lớp giá trị, không chỉ ở những dấu tích vật chất.

Hơn 30 năm sau Tuyên bố Nara năm 1994, vấn đề xác định tính xác thực của di sản vẫn tiếp tục được giới chuyên môn trao đổi. Tuyên bố Nara khẳng định việc đánh giá tính xác thực cần đặt trong điều kiện văn hóa cụ thể, dựa trên nhiều yếu tố như hình thức, vật liệu, công năng, truyền thống, kỹ thuật, vị trí và môi trường xung quanh.
Qua thực tiễn bảo tồn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, ngày càng có nhiều cách tiếp cận chú trọng đến đời sống của di sản, cách cộng đồng sử dụng, gìn giữ và trao truyền các giá trị.
Tại phiên thảo luận, các chuyên gia từ Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản và Myanmar đưa ra nhiều trường hợp nghiên cứu, từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, sự thích nghi của cư dân, các tầng văn hóa dưới lòng đất đến lịch sử giao thương và công tác quản lý di sản sau khi được ghi danh.
Tiến sĩ Janhwij Sharma, Phó Tổng giám đốc Cơ quan Khảo sát Khảo cổ học Ấn Độ (ASI), cho rằng cần nhìn rộng hơn những gì còn lại tại một địa điểm. Theo ông, lịch sử di sản còn thể hiện qua mối quan hệ với cộng đồng, tự nhiên, những vùng đất khác, sự dịch chuyển của con người và quá trình trao đổi tri thức.

Tiến sĩ Janhwij Sharma, Phó Tổng giám đốc Cơ quan Khảo sát Khảo cổ học Ấn Độ (ASI), cho rằng, lịch sử còn thể hiện qua quan hệ với cộng đồng, tự nhiên, những vùng đất khác, sự dịch chuyển của con người và trao đổi tri thức
“Điều quan trọng là nhìn vào mối quan hệ giữa các thuộc tính, con người, địa điểm và quá trình”, ông Sharma nói.
Ông dẫn trường hợp những cây cầu rễ sống ở Meghalaya, nơi cộng đồng tạo hình rễ cây thành cầu và tiếp tục chăm sóc trong quá trình cây sinh trưởng.
Với các mạng lưới hàng hải trên Ấn Độ Dương, dấu vết của thương mại, di cư, hành hương và trao đổi tri thức có thể không còn tồn tại dưới dạng những tuyến đường cụ thể, nhưng vẫn được nhận diện qua kiến trúc, nghệ thuật, tôn giáo và tri thức.
Từ thực tiễn Việt Nam, PGS.TS Trần Tân Văn, Trưởng Tiểu ban chuyên môn về Công viên địa chất toàn cầu Việt Nam (thuộc Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam), cho biết, Tràng An đã trải qua khoảng bảy lần biển tiến, biển thoái.
Khoảng 100 hang động được nhận diện, trong đó gần 30 hang có dấu tích khảo cổ của cư dân cổ. Các lớp trầm tích và di vật ghi lại những thay đổi của môi trường cũng như quá trình cư dân thích nghi với cảnh quan.
Theo PGS.TS Trần Tân Văn, hồ sơ Tràng An được xây dựng trong giai đoạn 2012-2014, khi hướng dẫn về việc sử dụng các bằng chứng phi vật thể để chứng minh giá trị nổi bật toàn cầu còn chưa rõ.
Những nghiên cứu sau khi Tràng An được ghi danh tiếp tục bổ sung tư liệu về lịch sử sử dụng cảnh quan, đặc biệt gắn với Hoa Lư từ thế kỷ X, cùng các nghi lễ, tín ngưỡng và dấu tích chữ khắc trên vách đá.

PGS.TS Trần Tân Văn, Trưởng Tiểu ban chuyên môn về Công viên địa chất toàn cầu Việt Nam (thuộc Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam) cho rằng, các bằng chứng về đời sống và thực hành văn hóa cần được đặt cùng tư liệu địa chất, khảo cổ và lịch sử khi đánh giá di sản
PGS.TS Trần Tân Văn cho rằng, các bằng chứng về đời sống và thực hành văn hóa cần được đặt cùng tư liệu địa chất, khảo cổ và lịch sử khi đánh giá di sản. “Chúng ta cần nhìn vào sự tiếp nối của đời sống và thực hành văn hóa, bên cạnh những bằng chứng vật chất”.
Từ góc độ nhiều năm khai quật khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long, PGS.TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam, cho biết công tác khai quật đã phát hiện chuỗi tầng văn hóa liên tục qua các thời kỳ Đại La, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và thời kỳ cận hiện đại. Trong mỗi lớp văn hóa là những dấu tích kiến trúc, vật liệu và hiện vật giúp nhận diện lịch sử khu vực.
“Tầng văn hóa, các di tích kiến trúc và hiện vật nằm trong đó chính là cơ sở quan trọng để nhận diện và phục hồi lịch sử của di sản”, PGS.TS Tống Trung Tín phân tích.
Theo ông, diện tích đã khai quật mới chiếm một phần rất nhỏ so với toàn bộ khu di tích. Nhiều lớp khảo cổ vẫn nằm dưới lòng đất và cần được bảo vệ, qua đó tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia nhận định, quá trình trao đổi đã để lại dấu ấn trong kiến trúc, kỹ thuật, tri thức và đời sống văn hóa
Trong khi đó, GS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, phân tích trường hợp Hội An và Dejima (Nhật Bản) từ góc độ các đô thị thương cảng được hình thành, biến đổi trong quá trình giao lưu quốc tế.
Hội An mang dấu ấn của nhiều cộng đồng và nền văn hóa, đặc biệt trong giai đoạn thương mại phát triển mạnh vào thế kỷ XVII-XVIII; Dejima cũng hình thành trong quan hệ giao thương giữa Nhật Bản với Hà Lan và châu Âu.
Theo GS.TS Nguyễn Văn Kim, quá trình trao đổi đã để lại dấu ấn trong kiến trúc, kỹ thuật, tri thức và đời sống văn hóa. “Với các đô thị thương mại hàng hải, tính xác thực cần được nhìn trong quá trình vận động và giao lưu văn hóa”.

PGS.TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam
Đến từ Myanmar, ông Than Zaw Oo, Giám đốc Cục Khảo cổ và Bảo tàng Quốc gia Myanmar, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng hồ sơ và quản lý di sản sau khi được ghi danh. Theo ông, Myanmar áp dụng các nguyên tắc về tính xác thực theo Tuyên bố Nara và Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới trong quá trình lập hồ sơ.
“Sau khi được ghi danh, công tác quản lý tiếp tục đặt ra yêu cầu duy trì các giá trị văn hóa đã được công nhận. Việc bảo đảm tính xác thực không dừng lại ở thời điểm một di sản được ghi danh”, ông Than Zaw Oo khẳng định.
Các tham luận tại phiên toàn thể cho thấy tính xác thực của di sản ngày càng được xem xét trong mối quan hệ giữa nhiều lớp bằng chứng: từ dấu tích vật chất, tầng khảo cổ, cảnh quan đến sự tiếp nối của đời sống, tri thức cộng đồng và giao lưu văn hóa. Đây cũng là những vấn đề được Hội nghị tiếp tục thảo luận nhằm đóng góp vào quá trình xây dựng “Văn kiện Hà Nội về Di sản và Tính xác thực” sẽ được tuyên bố vào ngày 30.9.



