Tôi trở về vì thấy được tự do nghiên cứu, nghĩ mình có ích nhiều hơn khi ở Việt Nam

Hiện nay chúng ta đang rất thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là những nhà khoa học có khả năng lãnh đạo, nhóm nghiên cứu hay rộng hơn người có thể đóng vai trò kiến trúc sư trưởng của các dự án.

LỜI TÒA SOẠN

Năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ từ bỏ sự nghiệp ở Pháp, trở về phụng sự Tổ quốc theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai thập kỷ sau, nhà khoa học Nguyễn Văn Hiệu trở về từ Liên Xô, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tin tưởng giao trọng trách xây dựng Viện Vật lý khi mới 31 tuổi. Những câu chuyện ấy không chỉ thể hiện khát vọng cống hiến của trí thức Việt Nam mà còn cho thấy tầm nhìn trong phát hiện, tập hợp và trọng dụng nhân tài.

Ngày nay, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của phát triển, bài học ấy càng mang ý nghĩa thời sự. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển, trọng dụng nhân tài, xây dựng môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy năng lực, đóng góp cho đất nước.

Từ những người đặt nền móng cho khoa học nước nhà đến các thế hệ trí thức đang tiếp tục chinh phục những lĩnh vực nghiên cứu mới, câu hỏi xuyên suốt vẫn là: Làm thế nào để thu hút, trọng dụng người tài, biến khát vọng cống hiến thành những thành tựu khoa học phục vụ đất nước?

Qua những câu chuyện về các thế hệ trí thức Việt Nam, tuyến bài 5 kỳ của VietNamNet nhìn lại những bài học trong công tác sử dụng nhân tài, đồng thời gợi mở những vấn đề về cơ chế, chính sách để trí tuệ Việt Nam thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Bài 1: GS Trần Đại Nghĩa: Cuộc trở về năm 1946 và trọng trách kiến tạo ngành Quân giới

Bài 2: Vị giáo sư 31 tuổi mang trọng trách thời chiến và niềm tin của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

VietNamNet có cuộc trao đổi với GS.TSKH Phùng Hồ Hải, người đã trở về Việt Nam sau nhiều năm nghiên cứu ở nước ngoài. Ông  đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện Toán học giai đoạn 2017-2022. Được đặc cách công nhận chức danh giáo sư năm 2012, GS.TSKH Phùng Hồ Hải đã nhận nhiều giải thưởng khoa học, trong đó có Giải thưởng Baedeker năm 2005, Giải thưởng Von-Kaven năm 2006 và gần đây nhất là Giải thưởng Nghiên cứu Humboldt (Đức).

Thưa Giáo sư, khi đang có một môi trường nghiên cứu thuận lợi tại Đức, điều gì đã khiến ông lựa chọn trở về Việt Nam? Quyết định ấy khi đó có phải là một lựa chọn khó khăn đối với ông không?

Thực ra tôi chưa hề có ý định làm việc hẳn ở nước ngoài cho nên có thể nói quyết định của tôi là “không đi nữa” chứ không phải là “trở về”. Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ, tôi được nhận vào làm việc tại Viện Toán học. Thời gian sau đó tôi có nhiều năm đi công tác ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong suốt thời gian công tác ở nước ngoài, tôi vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Viện Toán học. Tôi về nước hàng năm và lần nào về cũng đến trao đổi, làm việc với các đồng nghiệp tại Viện. Vì thế việc trở về sau một chuyến đi dài nhiều năm không làm ảnh hưởng tới công việc nghiên cứu của tôi. So với nhiều nhà khoa học khác khi trở về có lẽ tôi may mắn hơn vì tôi đã chọn được nơi làm việc phù hợp với nguyện vọng của tôi ngay từ đầu.

Nhìn lại quyết định trở về sau nhiều năm, điều gì là yếu tố quan trọng nhất khiến ông tin rằng Việt Nam là nơi mình có thể tiếp tục theo đuổi con đường khoa học?

Nhìn lại quyết định trở về sau nhiều năm, điều gì là yếu tố quan trọng nhất khiến ông tin rằng Việt Nam là nơi mình có thể tiếp tục theo đuổi con đường khoa học?

Tôi đã quyết định “trở về” vì tôi nghĩ khi trở về Việt Nam tôi tự do hơn trong hoạt động nghiên cứu của mình. Đến bây giờ tôi thực sự thấy điều đó. Điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam chưa tốt bằng ở nước ngoài, đãi ngộ không cao bằng. Tuy nhiên, tôi cảm thấy mình là chủ khi ở đất nước của mình và quan trọng hơn, tôi cảm thấy mình có ích nhiều hơn khi ở Việt Nam. Tôi cũng gặp thuận lợi khi trở về.

Thời điểm đó, Nhà nước đã có nhiều thay đổi trong việc tài trợ nghiên cứu khoa học. Tôi về Việt Nam năm 2008 và năm 2009 Quỹ NAFOSTED (Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia) chính thức đi vào hoạt động. Sau đó, việc Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán được thành lập cũng thổi một luồng gió mới vào không khí nghiên cứu toán học trong nước. Trong vòng hai mươi năm qua, Toán học Việt Nam đã có bước phát triển ngoạn mục, thêm một thế hệ mới gồm rất nhiều nhà toán học trẻ xuất sắc. Điều kiện làm việc trong nước cũng từng bước được cải thiện khiến việc nghiên cứu toán học trở nên dễ dàng hơn, nhất là sự phát triển của internet giúp giảm khoảng cách, chênh lệch trong hoạt động nghiên cứu giữa các nước trên thế giới. Đặc biệt, tôi nhận được sự ủng hộ động viên của các đồng nghiệp xung quanh, ở Viện Toán học cũng như các nơi khác.

Những năm đầu trở về, thực tế môi trường nghiên cứu trong nước có khác nhiều so với những gì ông hình dung trước đó? Những khó khăn lớn nhất mà một nhà khoa học trở về phải đối mặt là gì?

Những năm đầu trở về, thực tế môi trường nghiên cứu trong nước có khác nhiều so với những gì ông hình dung trước đó? Những khó khăn lớn nhất mà một nhà khoa học trở về phải đối mặt là gì?

Như đã nói, tôi có may mắn là trở về cơ quan cũ nơi tôi vẫn liên tục gắn bó trong quá trình công tác ở nước ngoài. Vì vậy, về cơ bản tôi không khó gặp khó khăn gì khi hòa nhập với cộng đồng Toán học trong nước. Mặc dù vậy cũng phải nói rằng sự thay đổi không nhanh như tôi mong đợi.

Vẫn còn rất nhiều vấn đề mới mà khoa học Việt Nam nói chung, Toán học nói riêng phải đối mặt. Điều khiến tôi lo lắng nhất chính là sự đi xuống về liêm chính trong khoa học. Nói một cách thẳng thắn là tôi chưa hài lòng. Ở đây không phải là thiếu sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, mà thiếu sự đồng bộ trong việc xây dựng cơ chế, thể chế, triển khai chính sách. Trong khi ngân sách được cấp thì lớn mà cơ chế chi tiêu, cơ chế quản lý rất nặng nề về mặt hành chính. Điều này khiến các nhà khoa học nghiêm túc phải mất rất nhiều thời gian, phân tâm, để đối phó, khiến họ mệt mỏi ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.

Trong nhiều trường hợp, nó còn là động lực khiến các nhà khoa học vi phạm liêm chính. Chẳng hạn, để có thể đáp ứng được các yêu cầu về nghiệm thu đề tài, họ cần phải công bố rất nhanh. Và để làm điều đó, nhiều khi người ta chọn gửi vào những tạp chí không nghiêm túc, thậm chí những tạp chí có dấu hiệu lừa đảo. Tuy nhiên, nhìn lại tôi cho rằng thuận lợi nhiều hơn khó khăn, và minh chứng cho điều đó là sự xuất hiện của một thế hệ nghiên cứu mới xuất sắc hơn các thế hệ trước.

Với câu hỏi thứ hai, kinh nghiệm rút ra của tôi là: giỏi là quan trọng nhưng chưa đủ. Quan trọng hơn là phải có ích. Khi bạn là người có ích cho mọi người, bạn sẽ nhận được sự ủng hộ của mọi người và thông qua đó bạn sẽ có cơ hội để phát triển. Khó khăn lớn nhất của một nhà khoa học khi trở về, hay nói chung, khi đến một môi trường mới, chính là khả năng hòa nhập. Muốn hòa nhập được thì phải hạ cái tôi của mình xuống để học hỏi. Có hòa nhập thì mới đóng góp được.

Sau quá trình làm khoa học trong nước, Giáo sư nhìn nhận thế nào về sự thay đổi của môi trường khoa học Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt trong việc tạo điều kiện để các nhà khoa học có thể nghiên cứu và hội nhập quốc tế?

Sau quá trình làm khoa học trong nước, Giáo sư nhìn nhận thế nào về sự thay đổi của môi trường khoa học Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt trong việc tạo điều kiện để các nhà khoa học có thể nghiên cứu và hội nhập quốc tế?

Hội nhập quốc tế trong khoa học không đơn thuần là công bố trên những tạp chí có nhãn mác quốc tế. Ở đây khoa học cũng cần phải rành mạch như thể thao, như bóng đá chẳng hạn. Chúng ta đi từ giải trong nước tới giải khu vực giải châu lục cho đến giải quốc tế. Hội nhập quốc tế trong khoa học cũng vậy, nó có nghĩa là chúng ta phải cạnh tranh với những nước có nền khoa học tiên tiến hơn. Muốn sản phẩm khoa học của chúng ta cạnh tranh được với sản phẩm của họ thì điều kiện, hoàn cảnh tạo ra những sản phẩm đó cũng phải cạnh tranh được với điều kiện của họ, nếu không thì chỉ dừng lại ở chủ trương.

Nghị quyết 57 của TW Đảng tạo ra một tiền đề quan trọng. Nhưng nó cần được đưa vào cuộc sống khoa học một cách quyết liệt, triệt để. Là một người đang trực tiếp chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu cũng như có nhiều hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài, tôi có thể khẳng định rằng vẫn còn nhiều cơ chế chính sách ban hành gần đây đi ngược với chủ trương của Nghị quyết 57.

Đơn cử các quy định về quản lý đề tài. Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi phải thực hiện quá nhiều báo cáo. Nhìn hình thức thì các cấp quản lý đang tham gia quá sâu, đến mức phản tác dụng vào hoạt động nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên về bản chất, các báo cáo mà chúng tôi mất không ít thời gian chuẩn bị về cơ bản chẳng ai đọc. Nghiên cứu trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản có tính đặc thù cao, người không gần chuyên môn không thể hiểu được. Tư duy quản lý bằng báo cáo góp phần kìm hãm hoạt động nghiên cứu - đáng lẽ có 2 giờ để suy nghĩ thì phải dành ra nửa giờ để làm báo cáo. Trong khi đó, Nghị quyết 57 yêu cầu giảm bớt thủ tục hành chính, trao quyền tự chủ cao cho nhà khoa học, tạo môi trường pháp lý và tư tưởng để các nhà khoa học yên tâm nghiên cứu.

Có ý kiến cho rằng thu hút người tài không chỉ là đưa một người giỏi về nước, mà quan trọng hơn là tạo ra môi trường để họ phát huy năng lực. Từ trải nghiệm của mình, Giáo sư thấy đâu là điều kiện quan trọng nhất để một nhà khoa học muốn gắn bó lâu dài với Việt Nam?

Đối với một nhà khoa học chuyên nghiệp, mong muốn cốt lõi của họ là được làm việc. Tôi không muốn dùng những từ như “hy sinh”, “cống hiến” hay “cao cả” để nói về hoạt động khoa học. Nó có thể chỉ đơn thuần là theo đuổi đam mê, hay là một công việc ưa thích. Cuối cùng thì hoạt động khoa học phải mang lại thành công, mang lại thành quả. Như vậy để có thể giữ chân những nhà khoa học xuất sắc thì phải tạo điều kiện để hoạt động của họ hiệu quả, mang lại kết quả có ý nghĩa. Giả sử một nhà khoa học khi làm việc ở nước ngoài thành công của họ là mười, còn khi về Việt Nam thành công chỉ còn bảy thì cũng còn có thể chấp nhận được, nhưng nếu thành công chỉ còn ba thì việc trở về là sai lầm.

Những nhà khoa học chuyên nghiệp theo cách hiểu của tôi là những người chỉ quan tâm tập trung vào hoạt động nghiên cứu, đào tạo. Họ không có mong muốn làm quản lý, lãnh đạo, cùng lắm là phụ trách nhóm nghiên cứu của mình, phòng thí nghiệm của mình, dành thời gian cho khoa học. Tôi nghĩ đất nước cần nhiều người như vậy. Ngược lại, cái nhà khoa học cần là sự đảm bảo về cuộc sống.

“Đảm bảo” thôi chứ đừng nói đến “đãi ngộ”: một mức lương để họ yên tâm công tác và không phải nghe ỳ xèo rằng, “nghe bảo giỏi lắm mà sao lương thấp thế”. Tiếp theo là sự hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu, để họ có thể phát triển nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm của mình, vừa đóng góp cho khoa học vừa xây dựng đội ngũ kế cận.

Ở đây cần nói thẳng rằng cơ chế đề tài được thực hiện trong vài chục năm qua không còn phù hợp nữa. Cơ chế này bản chất được đưa ra để bù đắp cho lương: trong hoàn cảnh lương các nhà khoa học quá thấp mà không thể nâng lương toàn bộ đội ngũ, cơ chế đề tài hiện hành được xây dựng để hỗ trợ thêm tiền lương cho một bộ phận những nhà khoa học vẫn còn tích cực nghiên cứu và có khả năng nghiên cứu. Mô hình này không tồn tại ở bất kỳ quốc gia có nền khoa học tiên tiến nào trên thế giới.

Tại những nước đó, các đề tài là để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học không dùng để trả lương cho nhà khoa học, bởi vì họ đã được nhận đủ lương rồi. Điều này cũng là thực tế tại Trung Quốc, hay Hàn Quốc. Cải cách tiền lương cho nhà khoa học vì thế là điều mấu chốt tại thời điểm hiện nay để khoa học có thể phát triển. Cần xây dựng môi trường để các nhà khoa học nghiên cứu bằng bản năng khám phá khoa học của mình, bằng sự khao khát tìm ra cái mới với tưởng thưởng là uy tín danh dự, chứ không phải vì lợi ích tài chính từ các đề tài khoa học mà họ được nhận. Tóm lại, trước tiên các nhà khoa học phải được sống một cách sung túc. Khi đó, với bản năng khoa học của mình họ sẽ muốn thực hiện những nghiên cứu có chất lượng.

Từ câu chuyện của bản thân, Giáo sư nghĩ thế nào về cách tiếp cận “trọng dụng nhân tài”? Một nhà khoa học cần điều gì nhất từ đất nước: cơ chế, nguồn lực, sự tin tưởng hay cơ hội được giao những nhiệm vụ lớn?

Từ câu chuyện của bản thân, Giáo sư nghĩ thế nào về cách tiếp cận “trọng dụng nhân tài”? Một nhà khoa học cần điều gì nhất từ đất nước: cơ chế, nguồn lực, sự tin tưởng hay cơ hội được giao những nhiệm vụ lớn?

Thực sự là cần tất cả những điều nói trên. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học cũng tuân theo quy luật cung cầu. Đất nước yêu cầu thấp thì chỉ cần đáp ứng thấp, đất nước yêu cầu cao thì phải đáp ứng cao. Nếu yêu cầu với nghiên cứu khoa học chỉ là về số lượng thì chỉ cần tiền là đủ, nghĩa là nguồn lực. Nếu có thêm yêu cầu về chất lượng nghiên cứu thì cần phải đáp ứng cả về cơ chế để có thể tổ chức hoạt động nghiên cứu đúng chuẩn mực. Nếu muốn các nhà khoa học cống hiến thì phải tin tưởng, tôn trọng.

Quy luật này tương tự tháp nhu cầu Maslow mà tôi tạm gọi là “tháp Maslow khoa học”. Hiện nay chúng ta đã đáp ứng được ở mức thấp nhất - số lượng. Đây là hệ quả của việc bơm tiền vào khoa học thông qua cơ chế đề tài. Từ số lượng cũng có thể chuyển thành chất lượng, nghĩa là trong số rất nhiều công bố từ Việt Nam cũng có những công bố tốt. Nhưng để nâng cao chất lượng một cách thực chất, cần tiến thêm một bước trong tháp Maslow khoa học, đó là xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học một cách khoa học. Tùy từng lĩnh vực mà có những “hệ sinh thái khoa học” khác nhau.

Chúng ta không cần phát minh nào trong công tác quản lý. Chỉ cần những nhà quản lý “mở lòng” tìm hiểu cách thực hiện ở các nước có nền khoa học tiên tiến, gần với hoàn cảnh của chúng ta nhất chính là Trung Quốc và Hàn Quốc. Ở tầng cao nhất của tháp Maslow là “chọn đúng việc và giao đúng người”. “Việc” ở đây là những nhiệm vụ khoa học ở tầm quốc gia, “người” là những nhà khoa học tầm quốc tế. Chưa thể bàn về tầng thứ ba nếu chưa có tầng thứ hai.

Các thế hệ trước như GS Trần Đại Nghĩa, GS Nguyễn Văn Hiệu từng được giao những trọng trách rất lớn khi còn trẻ. Theo Giáo sư, ngày nay Việt Nam cần làm gì để phát hiện và trao cơ hội cho những nhà khoa học trẻ có năng lực?

Các thế hệ trước như GS Trần Đại Nghĩa, GS Nguyễn Văn Hiệu từng được giao những trọng trách rất lớn khi còn trẻ. Theo Giáo sư, ngày nay Việt Nam cần làm gì để phát hiện và trao cơ hội cho những nhà khoa học trẻ có năng lực?

Thời thế tạo anh hùng. Những năm năm mươi thế kỷ trước Việt Nam chưa có một nền khoa học. Những nhà khoa học thực sự đếm trên đầu ngón tay, và họ phải thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền khoa học. Đó vốn không phải là việc họ được đào tạo. Ngày nay chúng ta đã có một nền khoa học, trọng trách của những nhà khoa học trẻ có năng lực là làm khoa học. Trên thế giới các nhà khoa học nhận giải thưởng Nobel, Fields xong vẫn làm khoa học. Cùng lắm họ phụ trách một viện nghiên cứu chuyên ngành. Sẽ rất lãng phí khi điều chuyển một nhà khoa học xuất sắc đi làm quản lý, thường họ làm không tốt. Quan trọng là những nhà lãnh đạo, nhà quản lý có năng lực, trình độ cho công tác của mình và biết lắng nghe.

Trong bối cảnh khoa học ngày càng mang tính toàn cầu, theo Giáo sư, Việt Nam nên nhìn nhận thế nào về cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài? Có nhất thiết phải đưa họ trở về làm việc toàn thời gian, hay cần những cách thức kết nối linh hoạt hơn?

Để phát triển khoa học, nguồn nhân lực là quan trọng nhất. Cái thiếu lớn nhất ở Việt Nam hiện nay chính là nguồn nhân lực. Chúng ta không thể đốt cháy giai đoạn trong việc phát triển nguồn nhân lực được. Hiện nay chúng ta đang rất thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là những nhà khoa học có khả năng lãnh đạo, nhóm nghiên cứu hay rộng hơn là người có thể đóng vai trò kiến trúc sư trưởng của các dự án.

Vì thế việc thu hút những nhà khoa học xuất sắc ở nước ngoài về là hết sức cần thiết. Trong việc này chắc chắn việc thu hút những nhà khoa học gốc Việt sẽ dễ dàng hơn, nhờ những mối liên hệ về ngôn ngữ, văn hóa, gia đình, v.v. tuy nhiên, đã đến lúc chúng ta cần thay đổi quan điểm trong việc tuyển người. Cần tuyển người phù hợp với công việc, đáp ứng được nhu cầu. Nhìn từ góc độ đó, các trí thức gốc Việt có thể là những người dễ phù hợp hơn để đáp ứng hơn, nhưng không phải là những lựa chọn duy nhất. Điều đó có nghĩa rằng chúng ta cần sòng phẳng, đừng coi yếu tố Việt kiều là lợi thế của chúng ta khi tuyển dụng họ.

Từ trải nghiệm của một nhà khoa học vừa nghiên cứu ở môi trường quốc tế, vừa làm việc trong nước, Giáo sư đánh giá thế nào về vai trò của khoa học Việt Nam trong việc giải quyết những bài toán lớn của đất nước hiện nay?

Từ trải nghiệm của một nhà khoa học vừa nghiên cứu ở môi trường quốc tế, vừa làm việc trong nước, Giáo sư đánh giá thế nào về vai trò của khoa học Việt Nam trong việc giải quyết những bài toán lớn của đất nước hiện nay?

Có câu “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”. Ta không biết sức của mình mà cứ ảo tưởng đề ra những việc lớn thì chắc chắn thất bại. Khoa học Việt Nam còn manh mún. Nhà nước, theo tôi, chưa nên đặt ra những bài toán lớn cho khoa học Việt Nam. Khoa học cần được dẫn dắt thúc đẩy bởi công nghệ. Một nền công nghệ mạnh sẽ đặt ra những bài toán, những yêu cầu để định hướng sự phát triển phát triển của khoa học. Trong mấy chục năm qua, chúng ta phát triển khoa học với ít định hướng, liên kết tới công nghiệp, công nghệ.

Nền khoa học của chúng ta chưa hề được chuẩn bị, được luyện tập để tham gia vào phát triển công nghệ, không thể yêu cầu nó trong một thời gian ngắn làm được việc đó ở những trình độ có thể cạnh tranh được với thế giới. Trong khoa học, khoảng cách giữa chúng ta với thế giới về khoa học còn rất xa, trong công nghệ còn xa hơn. Vì vậy, việc lựa chọn những nhiệm vụ chiến lược cho giai đoạn tới là hết sức quan trọng. Nhiệm vụ tốt là nhiệm vụ có tính khả thi cao và có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển lâu dài.

Nếu một nghiên cứu sinh Việt Nam hôm nay đang học tập ở một trung tâm khoa học lớn trên thế giới hỏi Giáo sư: “Tôi có nên trở về Việt Nam không?”, ông sẽ chia sẻ điều gì với bạn ấy?

Tôi phải nói thật là tôi sẽ không khách quan khi trả lời câu hỏi này. Bởi tôi sẽ có thiên hướng kêu gọi bạn đó quay về Việt Nam. Việt Nam ngày nay không còn là một nước nghèo và Nhà nước đang rất quan tâm đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ. Vì thế nhu cầu của đất nước về nhân lực khoa học công nghệ là rất cao.

Các bạn trẻ có năng lực và quyết tâm sẽ có rất nhiều cơ hội tốt ở Việt Nam. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt xuất sắc, những người có trình độ cao về khoa học và công nghệ, theo tôi, sẽ thành công hơn khi trở về Việt Nam. “Đi để trở về”, các bạn đi để học hỏi thêm kiến thức, kỹ năng, và khi cảm thấy chín muồi thì nên trở về.

Thiết kế: Amy Nguyễn

Thái An

Vân Nga

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/toi-tro-ve-vi-duoc-tu-do-nghien-cuu-nghi-minh-co-ich-nhieu-hon-khi-o-viet-nam-2569091.html