Tôm hùm lập kỷ lục xuất khẩu, nguồn giống vẫn là 'điểm nghẽn'

Xuất khẩu tôm hùm tăng mạnh, nhưng nguồn giống thiếu hụt và giá cao đang trở thành "điểm nghẽn".

Ngành tôm hùm đang đứng trước thách thức đáp ứng nhu cầu con giống - Ảnh minh họa được tạo bởi AI.

Ngành tôm hùm đang đứng trước thách thức đáp ứng nhu cầu con giống - Ảnh minh họa được tạo bởi AI.

Nguồn giống vẫn là nút thắt lớn

Ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, nghề nuôi tôm hùm đang phát triển mạnh, tập trung chủ yếu dọc ven biển miền Trung, trong đó Khánh Hòa và Đắk Lắk chiếm trên 95% tổng số lồng nuôi và sản lượng tôm hùm của cả nước.

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, ngành hàng này đang ghi nhận đà phục hồi tích cực. Kim ngạch xuất khẩu tôm hùm năm 2025 đạt 858 triệu USD, mức cao kỷ lục. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu mặt hàng này đạt 11.790 tấn, mang về 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ.

Những con số này cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của tôm hùm trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng là một bài toán không dễ giải: nguồn giống.

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nhu cầu con giống tôm hùm trên cả nước vào khoảng 100 - 120 triệu con/năm, trong khi nguồn khai thác tự nhiên mới đáp ứng khoảng 10%. Đáng chú ý, công nghệ sản xuất giống nhân tạo đối với tôm hùm bông dù đã có bước tiến ở quy mô nghiên cứu nhưng chưa thể nhân rộng thương mại.

Sự phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên và nhập khẩu khiến người nuôi dễ bị tác động khi nguồn cung biến động. Trong 6 tháng đầu năm 2026, do thiếu nguồn giống nhập khẩu chính ngạch, giá con giống bị đẩy lên mức 45.000 - 70.000 đồng/con, đồng thời làm gia tăng nguy cơ kinh doanh, vận chuyển con giống không rõ nguồn gốc.

Khánh Hòa là địa phương thể hiện rõ nhất sức ép này. Trong 6 tháng đầu năm 2026, người dân tỉnh đã thả nuôi 137.136 lồng, sản lượng đạt hơn 10.270 tấn. Các vùng nuôi tập trung chủ yếu tại Vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh và vịnh Phan Rang.

Khánh Hòa và Đắk Lắk hiện chiếm đến 95% sản lượng tôm hùm thương phẩm của cả nước. Riêng tại Khánh Hòa, nguồn giống tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu, tương đương nhu cầu 60 - 70 triệu con/năm.

Trong nửa đầu năm nay, địa phương không nhập khẩu được con giống tôm hùm, khiến giá giống tăng lên 45.000 - 50.000 đồng/con đối với tôm hùm xanh và 60.000 - 65.000 đồng/con đối với tôm hùm bông.

Không chỉ nguồn giống, ngành hàng còn đối mặt với tình trạng liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ. Người nuôi, doanh nghiệp cung ứng, cơ sở thu mua, chế biến và xuất khẩu chưa hình thành được một chuỗi đủ mạnh để cùng chia sẻ thông tin, rủi ro và lợi ích.

Ông Nguyễn Trọng Chánh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, cho biết tỉnh đang rà soát đưa vùng nuôi vào quy hoạch, giao khu vực biển và đăng ký lồng nuôi theo Luật Thủy sản 2017. Cùng với đó, địa phương thúc đẩy hình thành các Tổ hợp tác, Hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp.

Đại diện Khánh Hòa và Đắk Lắk cũng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan Trung ương đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, tập trung làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nghiên cứu thức ăn công nghiệp chuyên dùng cho tôm hùm.

Chủ động giống, nâng giá trị ngành hàng

Theo PGS.TS. Võ Sĩ Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, thực tế cho thấy rất khó trông chờ hoàn toàn vào sản xuất giống nhân tạo để cung cấp đủ nguồn giống cho nuôi tôm hùm thương phẩm trong nước. Ngay cả khi nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo thành công, giá thành cũng có thể rất cao, gây khó khăn cho khả năng thương mại hóa. Vì vậy, trước mắt, cần tháo gỡ các khó khăn trong nhập khẩu giống từ nước ngoài, đồng thời có giải pháp căn cơ để khai thác nguồn tôm hùm giống trong nước.

Bài toán này càng trở nên cấp thiết khi Indonesia - nguồn cung tôm hùm giống chính cho Việt Nam - đang thay đổi chính sách quản lý. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam, cho biết theo Quy định KP 7/2024 của Indonesia, nước này chỉ cho phép xuất khẩu tôm hùm sống trên 50 g và yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cơ sở ươm giống tại địa phương.

Từ thực tế này, ông Dũng đề xuất mô hình liên doanh hai giai đoạn. Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể xây dựng cơ sở tại Indonesia để ươm tôm từ 0,2 g lên 5 g, sau đó chuyển về Việt Nam để dưỡng lên trên 20 g trước khi cung ứng cho người nuôi.

Cách tiếp cận này có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn giống, đồng thời tạo ra chuỗi liên kết xuyên biên giới thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động nhập khẩu giống như hiện nay.

Nhưng câu chuyện của ngành tôm hùm không chỉ dừng ở con giống. Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nhấn mạnh tôm hùm là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển của Việt Nam. Với giá trị kinh tế cao, thị trường rộng và điều kiện tự nhiên thuận lợi, tôm hùm có khả năng trở thành một ngành hàng quan trọng trong quá trình phát triển nuôi biển hiện đại.

Tuy nhiên, theo ông Luân, ngành hàng cần thay đổi căn bản cách thức phát triển, từ chiều rộng sang chiều sâu. Điều này có nghĩa không tiếp tục đặt trọng tâm vào việc mở rộng số lượng lồng nuôi và sản lượng bằng mọi giá. Thay vào đó, ngành phải tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, đồng thời kiểm soát tác động đến môi trường và nguồn lợi biển.

Đây cũng là hướng đi phù hợp trong bối cảnh ngành tôm hùm đang đứng trước cơ hội tăng trưởng lớn nhưng phải đối mặt với nhiều rủi ro từ nguồn giống, môi trường, thị trường và yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu.

Về dài hạn, việc phát triển ngành tôm hùm không thể chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên hay giá bán cao. Nguồn giống phải được kiểm soát, vùng nuôi phải được quy hoạch, người nuôi phải được tổ chức lại và doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Cùng với đó, nghiên cứu giống nhân tạo, thức ăn công nghiệp, công nghệ nuôi, quản lý môi trường và truy xuất nguồn gốc cần được xem là những mắt xích quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Khi nguồn cung giống quốc tế thay đổi, đây chính là lúc ngành tôm hùm Việt Nam cần nhìn xa hơn bài toán thiếu giống trước mắt. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có đủ giống để nuôi, mà phải hình thành một ngành hàng có khả năng chủ động nguồn lực, kiểm soát chất lượng, nâng giá trị và phát triển bền vững.

Hà Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tom-hum-lap-ky-luc-xuat-khau-nguon-giong-van-la-diem-nghen-186282.html